Đi tìm con lợn mang giấc mơ của người xưa
Người tiền sử dùng công cụ đá cứng nhọn sắc ghè đục thành đường viền hình con lợn lên vách đá hang động nơi họ cư trú rồi bôi bột thổ hoàng trộn với mỡ lợn lên hình vẽ ấy. Thế là có đường nét, hình khối của nghệ thuật tạo hình nguyên thủy mà sau này dân gian kế thừa và phát huy.
Có hai biểu hiện độc đáo của nghệ thuật tạo hình dân gian với hình ảnh lợn trong điêu khắc và tranh.
Về điêu khắclợn tuy không được “tiếng” linh như long, ly, quy, phượng nhưng giữa trần tục lợn có “miếng” cho người, nên được người đưa lên các ván kẻ, ván long ở đình, chùa. Trên ván kẻ đình Bình Lục (Bắc Ninh) có chạm trổ con lợn đang đớp lá khoai. Trên ván long kẻ hiên đình CamĐà (Hà Tây) chạm con lợn đang lững thững đi. Chạy dọc suốt khu giữa nóc đình Liên Hiệp (Hà Tây) được chạm bức tranh cảnh săn heo nhộn nhịp. Một con heo béo tròn đang bị người rượt đuổi theo thì chân sau bị một cánh tay người lực lưỡng tóm, nhấc bổng lên. Hình ảnh đó đề cao sức mạnh của con người trong lao động săn bắt.
Rừng Ba Thanh, huyện Như Xuân, Thanh Hóa hiện nay vẫn còn nhiều lợn rừng. Nhân dân ở đây có tục săn heo ngay sau tết Nguyên đán được tổ chức hàng năm cho đến 1947. Hai hàng ván long, ván kẻ dọc đình Ba Thanh chạm trổ cảnh đoàn người mang theo chó săn, đinh ba, mã tấu, lao, trượng, cồng chiêng đi săn heo. Các cặp trai tráng khiêng heo trở về với sự đón tiếp hồ hởi của các sơn nữ.
Phổ biến và dễ thấy là con lợn đất nung được trang trí các màu bắt mắt, với nhiều cỡ to nhỏ, rỗng ruột, có để một rãnh nhỏ... dùng làm ống đựng tiền để dành cho trẻ con. Khi lợn đất đã đầy ắp tiền, cả nhà làm một nghi thức rồi mổ lợn, đếm tiền rất vui vẻ. Sau đó mua con khác để dành tiền đợt mới theo tinh thần chăn nuôi của cộng đồng là “Ăn lứa này lo ngay lứa khác”.
Về hội họa, có tranh lợn dân gian dùng trang trí nhà cửa vào dịp tết Nguyên đán với mục đích cầu mong, chúc tụng, ca ngợi cho năm mới tấn tài, tấn lộc, sinh sôi, nảy nở nhanh chóng như “lợn đầy nhà - gà đầy chuồng”. Nhớ về cuộc sống lam lũ một nắng hai sương trước 1945, những thứ mà ngày thường nhiều người không có chỉ tết đến mới có: “Tết về thịt mỡ dưa hành, có tràng pháo chuột có tranh lợn gà!”. Trong bốn thứ đó thì hai thứ có lợn. Cho hay, đã từ lâu, lợn là con vật hữu ích, nó mang lại sự phong phú về vật chất lẫn tinh thần cho người nông dân.
Trong ba dòng tranh lợn dân gian là tranh Đông Hồ (Bắc Ninh), Kim Hoàng (Hà Tây), Hàng Trống (Hà Nội), hình ảnh con lợn đi vào nghệ thuật tranh Đông Hồ và Kim Hoàng nhiều hơn, thành công hơn và đã trở nên quen thuộc đối với mọi nhà trong ngày tết Nguyên đán.
Lợn trong tranh vừa cách điệu vừa hiện thực và lãng mạn. Nghệ thuật vẽ lợn với tướng quý, lưng đai, bụng bị, bốn khoáy đóng chuồng lại thêm hai hình tròn tương tự như hình nhật - nguyệt, âm - dương, tượng trưng cho sự phồn thịnh vạn vật. Rõ là “mặt như mặt lợn ỉ” to bè, lắm mỡ... mà giới sinh thái học nghêin cứu cho biết là một trong số ít giống lợn quý hiếm, chỉ có ở vùng hạ lưu sông Hồng miền Bắc. Trong thế giới, ở một số nước phát triển như Pháp, Đức, Mỹ... trong mười nhà dân có đến ba, bốn nhà nuôi heo ỉ Việt Nam làm “heo cảnh” thay cho “khuyển cảnh”. Còn nhà nước nuôi lợn ỉ Việt Nam ở các thảo cầm viên phục vụ cho vui chơi, giải trí, du lịch, cho việc nghiên cứu của sinh viên đại học và các nhà nghiên cứu khoa học ngành y. Điều đáng buồn là con lợn ỉ ở chính quê hương nó lại chưa được giới khoa h ọc khai thác đến. Tại “bụt chùa nhà không thiêng?”Hay chùa nhà không có bụt mà chỉ có những đốm ma trơi lập lòe trong đêm!?
Tranh, tượng lợn dân gian cũng có ở nước khác. Tượng lợn ở Đức, người Đức coi lợn là biểu tượng của hạnh phúc. Từ thời trung cổ, người Pháp vẽ tranh lợn rong chơi trên các đường phố ở Pari. Tranh lợn dân gian Việt Nam được nhiều người yêu thích vì màu sắc dân dã và hấp dẫn.
Nhà nghiên cứu Lê Văn Hòe, 1953 viết: “Tranh lợn, gà Việt Nam đỏ như gấc, vàng như lúa chín, xanh màu cỏ non, đỏ như ngô già, nâu như đất cày, toàn những màu dân dã quen thuộc, thân thiện từ bao nhiêu đời rồi. Những màu sắc ấy in đậm vào tâm não người dân quê Việt Nam thế hệ này đến thế hệ khác thành màu sắc dân tộc”.
“Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”(Hoàng Cầm)
Con lợn bột, “nàng” lợn nái vay mượn từ tranh Đông Hồ, vào tranh Kim Hoàng có thêm nền riêng độc đáo về sắc màu. Cùng trên giấy dó nhưng nền đỏ hồng tươi hoa đào, nghệ nhân Kim Hoàng pha mực đen với chàm, tạo ra lợn đen trùi trũi như trâu, được người Hà Tây yêu thích. Trong bài “Cảnh đề tranh lợn Kim Hoàng”, nhà thơ Trần Lê Văn viết:
“Đẫy đà một khối sắc chàm đen
Nghễ sĩ tài ba tạo dáng quen
Thoắt ngắm ngỡ hình Trư Bát Giới
Càng nhìn càng tỏ nét thiên nhiên.
Cuồn cuộn hình mây là cái tai
Mũi nở xòe như hoa mãn khai
Bụng sệ vòng vèo làn sóng lượn
Cái đuôi buông một nét thon dài.
Nền sắc đào hoa đỡ dáng hình
Chàm đen một khối hóa tròn xinh
Tranh xuân chú ỉn treo trên vách
Thấy của “trời cho” đến với mình!”
Tranh lợn dân gian Việt Nam nói gì?
Đây không đơn thuần là những đường nét, sắc màu trang trí mà ẩn tàng một triết lý đơn giản sâu sắc, dân dã Việt Nam . Đó là tinh thần hòa hợp tự nhiên, tự lực tự cường, độc lập tự chủ, dân giàu thì nước mạnh. Chúc tụng, ngợi ca, cầu mong quốc thái dân an. Con người mới là chủ nhân đất nước, không ngừng nỗ lực sáng tạo cho cuộc sống thêm phồn thịnh.
Bức tranh lợn một, thể hiện triết lý như ông cha đã khái quát trong bốn chữ: Nhất khoảnh anh hùng!
Bức tranh lợn ăn lá dáy: Sự hòa hợp tự nhiên. Con lợn có cái “mồm gầu giai, hai gánh cám”ngoạm ăn thân dáy, mắt lờ đờ thể hiện sung sướng khi ăn miếng khoái khẩu trời đất sinh ra cho nó. Mồm lại thêm hai nét cong vui tươi, khỏe khoắn lúc ăn. Giống lợn ấy nuôi “một tháng bằng giai(gầu giai), hai tháng bằng bồ”như ước muốn của người chăn lợn thời chưa có thuốc tăng trọng!
Bức tranh lợn đàn. “Nàng” lợn nái trẻ căng, sức xuân hơ hớ, cùng năm con lợn sữa quấn quýt, nô đùa bên mẹ. Con thì nghịch ngợm nhảy chồm lên lưng con khác. Những “cô chiêu”, “cậu ấm” lợn đang mâng mẩng lớn trông thấy, yên trí đã có bầu sữa mẹ. Còn mẹ chúng - “nàng” lợn nái không “híp mắt lợn” mà mở to đôi mắt sinh vật sung sướng có được bà chủ “mát tay” nuôi như nàng “mát tay” sinh đẻ, nàng sẽ nhanh chóng vào kỳ sinh nở mới, các con nàng nhanh lớn và đến lượt chúng làm tốt cái thiên chức làm mẹ như nàng, sòn sòn hai lứa một năm, con cái, cháu, chắt... mau đông đàn dài lũ, làm giàu cho chủ.
Bức tranh làm cho người xem vui lây... Tôi bất chợt nhớ lại câu ca dao thời cũ: “Ra đường thiếp hãy còn son, về nhà thiếp lại năm con cùng chàng!”. Tôi nghĩ, hết ba năm nghĩa vụ, tôi trở về làng, tìm lấy một người vợ hiền thục, vị tha, biết sinh con và chăm sóc con, để có một tổ ấm gia đình như trong câu ca dao: “Lợn tốt nái, gái con so”. Hai vợ chồng với một, hoặc hai con theo hình mẫu lý tưởng của gia đình thời văn minh. Tôi lo việc đồng áng nặng nhọc, vợ đảm đang nội trợ ở nhà chăn lợn, nuôi con, cùng làm giàu!
Và tôi kính phục hình tượng một người phụ nữ trong làng, thân cò lặn lội nuôi con, lo chu tất việc nhà và xã hội, nhưng không may phải anh chồng dại, đua đòi, ăn chơi quá đà, nay bị bồ bỏ rơi, phải muối mặt quay tấm thân xác như vờ về nhờ người vợ cũ biết mở rộng tấm lòng vị tha và độ lượng, thật cảm động:
“Chàng đi năm thiếp bảy thê
Vẫn không quên được nái sề này ư?”
Say sưa bình phẩm tranh, tôi bất giác nhớ về những phiên chợ tết quê trước 1945, hình ảnh cô hàng tranh “kĩu kịt quẩy đôi bồ”cũng tinh nghịch, đa tình quyến rũ bằng tiếng rao lớn:
“Các bác đến mau mau
Mua tờ tranh điệp tươi màu
Mua đàn gà, lợn thi nhau sòn sòn...”.








