Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 27/09/2007 17:37 (GMT+7)

Di sản văn hóa trong phát triển du lịch Hưng Yên

Di sản văn hóa còn là đặc điểm dễ nhận biết nhất trong tấm căn cước dân tộc khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế để thực hiện sự nghiệp đổi mới đất nước. Hội nhập với thế giới để phát triển, hay hòa tan mất bản sắc, dẫn đến mất phương hướng trong phát triển đất nước được quyết định bởi chính bản lĩnh dân tộc, mà suy cho cùng, bản lĩnh ấy có được lại là nhờ phần lớn vào quá trình gìn giữ và phát huy kho tàng di sản văn hóa vô giá của dân tộc, trong đó có di sản văn hóa truyền thống của Hưng Yên.

Ngày nay di sản văn hóa Việt Nam đã thực sự khẳng định được vị trí vai trò của mình trong đời sống xã hội. Bước vào công cuộc đổi mới của đất nước, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu giáo dục truyền thống, bảo tồn phát huy các di tích danh thắng để góp phần cùng với kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới xây dựng đất nước Việt Nam, con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa trong cả nước nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng đã và đang có nhiều bước chuyển biến.

Là một tỉnh mới được tái lập (1997) với 9 huyện và 1 thị xã, kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, chỉ những ruộng cùng sông ngòi, cây cối và tre vây bọc các làng, nhưng Hưng Yên hội tụ nhiều yếu tố văn hóa truyền thống (cả văn hóa vật thể và phi vật thể). Đó thực sự là nguồn di sản văn hóa vô cùng quý giá cần được bảo tồn, khai thác và phát huy một cách có hiệu quả.

Từ những năm 1997 trở về trước với điều kiện kinh tế trong tỉnh còn thấp, lại là một tỉnh hợp nhất, nên việc quan tâm đến các di tích chưa được thấu đáo và thích đáng. Hiện nay (tính đến tháng 10-2004) Hưng Yên có 144 di tích được xếp hạng quốc gia, hiện tại có 75% di tích được Nhà nước đầu tư chống xuống cấp, song do nguồn kinh phí có hạn nên công tác trùng tu tôn tạo chủ yếu là cứu vớt các di tích bị hư hỏng nặng. Trong khi đó tuyệt đại đa số các di tích có tuổi thọ cao, nhiều di tích vẫn đang tiếp tục xuống cấp nghiêm trọng, cần phải có sự đầu tư kịp thời và đối với các di tích này, công tác trùng tu tôn tạo phải luôn luôn cố gắng đảm bảo được tính khoa học. Bởi vì ở không ít các di tích hiện nay chính quyền địa phương và Ban quản lý di tích sử dụng nguồn vốn công đức của nhân dân vào việc trùng tu, tôn tạo rất tùy tiện, dẫn đến phá vỡ cảnh quan tổng thể di tích, làm thay đổi biến dạng di tích, một số di tích vẫn còn trong tình trạng ở lẫn với các hộ dân cư.

Về cổ vật, Hưng Yên cũng có một số lượng không nhỏ. Theo thống kê của Sở Văn hóa - Thông tin là 77.633 hiện vật, trong đó có 28.253 hiện vật cũ (trước năm 1945) chiếm khoảng 35% và 39.480 hiện vật mới (sau năm 1945) chiếm khoảng 65%. Tuyệt đại đa số các cổ vật nằm trong các di tích đã được xếp hạng, trong đó có rất nhiều cổ vật có giá trị, thế nhưng công tác bảo vệ giữ gìn cổ vật ở một số địa phương chưa được coi trọng, dẫn đến tình trạng mất mát cổ vật thường xuyên xảy ra (như ở đền Đa Hòa - Dạ Trạch, đền Mẫu...).

Mặc dù ở các di tích đã được xếp hạng, đều có Ban quản lý di tích, chính quyền địa phương trông coi bảo vệ, song thực tế vẫn còn nhiều địa phương đã khoán trắng việc trông coi, bảo vệ cho Ban quản lý di tích. Nhiều Ban quản lý di tích không có thành phần của chính quyền địa phương cấp xã, dẫn đến việc buông lỏng công tác quản lý đối với di tích. Do đó việc nắm bắt các sai phạm di tích chưa được kịp thời, dẫn đến việc tranh chấp đất đai, mất cắp cổ vật, xây dựng cơi nới trái phép thường xuyên xảy ra ở một số nơi, đặc biệt là ở các di tích tôn giáo (chùa). Và, không thể không bức xúc khi những người phụ trách chính quyền các cấp nắm trong tay luật đất đai lại tỏ ra bất lực trước các vấn đề lấn chiếm đất đai của di tích.

Có thể nói rằng, tuyệt đại đa số các di tích Hưng Yên được Nhà nước xếp hạng là những công trình văn hóa, những di sản mang tính nghệ thuật cao, nhiều di tích còn giữ được nét kiến trúc độc đáo, thường gắn với việc thờ các danh nhân, thần hoàng làng địa phương, vì vậy có ảnh hưởng rất lớn tới văn hóa tâm linh và được nhân dân hết sức quan tâm bảo vệ, thông qua đó có tác dụng tuyên truyền, giáo dục truyền thống và trở thành nơi sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của đông đảo quần chúng nhân dân.

Bên cạnh đó, còn có các di tích chưa được phân cấp xếp hạng. Số lượng di tích này khá lớn, chiếm gần 90% tổng số di tích trong toàn tỉnh, trong đó có trên 30% di tích được xây dựng mới hoàn toàn trên nền di tích cũ (do bị phá hủy trong chiến tranh và do sự tàn phá của thời gian). Việc phục hồi các di tích này hiện chủ yếu là các chùa, tuyệt đại đa số khi trùng tu tôn tạo đều không theo đúng yêu cầu và phương pháp khoa học. Ở nhiều ngôi chùa, người ta đã cạo các lớp sơn cũ trên các tượng cũ để sơn lên một lớp sơn Tây lòe loẹt, xây các cột bằng xi măng để thay thế cho các cột gỗ, lát lại nền chùa bằng gạch hoa Trung Quốc... Trên đầu các tượng Phật cổ, người ta gắn thêm những vòng hào quang nhấp nháy ánh điện (đáng tiếc ở một số ngôi chùa lớn được xếp hạng của tỉnh Hưng Yên cũng xảy ra hiện tượng này). Những thứ cũ mà người ta vứt bỏ rõ ràng là đáng quý, đáng cất ở bảo tàng, trong khi những cái mới thay thế trên di tích thì chỉ là một thứ đồ "dởm", ngây ngô.

Số lượng cổ vật trong các di tích chưa được phân cấp xếp hạng không còn nhiều do bị tàn phá, mất mát, có những di tích đồ thờ tế tự được làm mới hoàn toàn, những di tích nào còn giữ được kiểu dáng kiến trúc cũ thì đến nay đều bị xuống cấp trầm trọng.

Trong công tác quản lý, bảo vệ, khai thác và sử dụng đối với các loại di tích này cũng còn nhiều bất cập: Hầu hết đều không có Ban quản lý mà chủ yếu do ban kiến thiết là các cụ cao tuổi trong thôn đảm nhận. Do vậy, việc sửa chữa cơi nới tùy tiện, tân tạo hóa di tích, làm cảnh quan di tích bị thay đổi, biến dạng. Việc đưa đồ thờ tự vào các di tích gần như tự do không có cơ quan chuyên môn quản lý và hướng dẫn. Một số di tích kiến trúc đá, hiện tại không có người trông nom. Chính quyền địa phương không quản lý hoặc quản lý kém, việc khai thác sử dụng rất yếu kém, các hoạt động mê tín dị đoan thường tập trung chủ yếu ở các di tích này.

Có thể nói việc phá hoại di tích dù là cố ý hay không cố ý đều làm thiệt hại đến nền văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa Hưng Yên nói riêng. Tất cả hành vi phá hoại đó dẫu vụ lợi hay không đều có nguyên nhân sâu xa và bao trùm là không có ý thức bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, không nhận thức được di sản đó là vô giá. Đáng tiếc sự thiếu ý thức này có ở trong cộng đồng nói chung và cả ở trong người làm công tác văn hóa nói riêng.

Cùng với kho tàng văn hóa vật thể phong phú, Hưng Yên cũng là vùng đất có một kho tàng văn hóa phi vật thể đa dạng có nhiều nét độc đáo, thực sự là những sáng tạo của các thế hệ tiền nhân để lại cho thế hệ hôm nay. Những di sản văn hóa phi vật thể ấy đều là những hòn ngọc quý. Để bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa phi vật thể, Luật Di sản văn hóa đã đề cập trọn vẹn đến vấn đề này, từ trách nhiệm của Nhà nước, các cơ quan nhà nước, đến các nguyên tắc bảo vệ và phát huy. Và muốn thực hiện những điều luật này, có nhiều việc cần phải làm, nhưng tất cả phải xuất phát từ thực tiễn của những công việc liên quan mật thiết đến nhau: Sưu tầm và nghiên cứu; bảo tồn và phát huy.

Những năm gần đây, sự thay đổi trong đời sống kinh tế xã hội, sự phát triển của công nghệ thông tin, mặt khác do chính đặc trưng của di sản văn hóa phi vật thể, đã khiến xảy ra hiện tượng mai một thất truyền, đứt gãy của một số di sản văn hóa phi vật thể. Chính vì thế công việc sưu tầm văn hóa phi vật thể đang đặt ra hai nhiệm vụ:

Thứ nhất, phải có một cuộc tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, để từ đó có kế hoạch sưu tầm nghiên cứu, cũng như bảo tồn và phát huy làm sao để mỗi địa phương, mỗi nhà quản lý phải nắm được chính xác những di sản văn hóa phi vật vật thể của quê mình.


Thứ hai, phải có kế hoạch từng bước bảo tồn, phát huy những di sản này một cách hữu hiệu. Phải thừa nhận Bộ Văn hóa - Thông tin đã có ý thức rất cao trong việc bảo tồn, phát huy các di sản văn hóa phi vật thể cũng như ứng dụng những thành quả của công nghệ thông tin hiện đại vào công việc này khi xây dựng mục tiêu "Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể" trong chương trình quốc gia về văn hóa.

Từ năm 1997 đến nay, Sở Văn hóa - Thông tin Hưng Yên thực hiện được một số dự án bảo tồn, phát huy di sản văn hóa phi vật thể như: Tổ chức các hội thảo về lễ hội, nghiên cứu tầm nghệ thuật truyền thống như hát trống quân, hát ả đào... và điều đáng nói là việc làm này không chỉ dừng lại ở chỗ các di sản văn hóa phi vật thể được lưu giữ, mà quan trọng hơn là ý thức cộng đồng về hiện tượng văn hóa phi vật thể được nâng cao rất nhiều. Người dân đã có một ý thức và niềm tự hào rõ rệt về những di sản văn hóa phi vật thể của quê hương mình, từ đó tiếp tục bảo tồn, phát huy cao và truyền lại cho thế hệ sau những di sản ấy sống dậy mạnh mẽ, mãnh liệt trong cộng đồng đúng như bản chất của nó, đưa những sản phẩm của cộng đồng về với cộng đồng nơi nó được sinh ra và lưu giữ.

Tuy đã có nhiều nỗ lực, nhiều cố gắng, nhưng nhìn lại thành quả đạt được còn quá nhỏ bé so với kho tàng văn hóa phi vật thể của Hưng Yên. Hơn nữa tình hình sưu tầm vẫn không tránh khỏi đi theo lối mòn, đó là chỉ dừng lại ở việc ghi chép bằng văn tự, xuất bản thành sách hoặc cùng lắm là in sao thành băng đĩa... thì quả thực chưa đạt hiệu quả cao, nhất là với các loại hình, thể loại phi vật thể ngoài thành tố ngữ văn. Tính chất phi vật chất của những di sản văn hóa phi vật thể đòi hỏi chúng ta phải nghĩ đến những hình thức khác, các làm khác để lưu giữ nó một cách bền vững và sinh động.

Bên cạnh đó thấy rằng ở Việt Nam nói chung, Hưng Yên nói riêng dù nội hàm cấu trúc xã hội này có thay đổi theo thời gian, lịch sử nhưng thành phần quan trọng của cấu trúc xã hội này vẫn là nông dân. Với một tỉnh mà nông dân chiếm hơn 70% dân số thì những di sản văn hóa phi vật thể ấy đích thực là những sáng tạo của người nông dân, rồi phương thức canh tác của những người nông dân này là trồng lúa nước vùng đồng bằng châu thổ, chính đặc điểm này chi phối di sản văn hóa phi vật thể cả về nội dung, giá trị, phương thức biểu hiện lẫn phương thức lưu truyền. Là sáng tạo của nông dân, nên sự tồn tại bằng văn bản của các di sản văn hóa phi vật thể không nhiều, cho nên nếu đặt những di sản văn hóa phi vật thể ấy trong tương quan với chủ thể sáng tạo thì rõ ràng chúng ta sẽ rút ra được nhiều điều bổ ích cho công tác sưu tầm, nghiên cứu, lẫn bảo tồn và phát huy.

Việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống cũng là nhằm đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao của toàn dân, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu tham quan du lịch của khách nước ngoài, tạo nền móng vững bền góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới. Quan điểm này luôn luôn là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta.

Tuy nhiên, hiện nay việc khai thác di tích lịch sử - văn hóa phục vụ tham quan du lịch của Hưng Yên chủ yếu là du khách đi hành hương lễ hội, còn nguồn khách du lịch thường xuyên hầu như rất ít. Bên cạnh đó còn có nơi diễn ra việc thương mại hóa trong khai thác di tích, thậm chí một số điểm còn diễn ra các hoạt động mê tín dị đoan, làm ảnh hưởng tới môi trường văn hóa của du lịch.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.