Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 23/10/2006 14:15 (GMT+7)

Để thương mại hoá các kết quả nghiên cứu khoa học

Hiện nay, trong công tác quản lý KH&CN nói riêng và hoạt động KH&CN nói chung đang nổi lên một vấn đề nóng bỏng là các kết quả nghiên cứu chưa thực sự đi vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, hay nói cách khác là các doanh nghiệp chưa “mặn mà” với các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước. Điều này cũng đồng nghĩa với việc những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước không được thương mại hoá, hiệu quả hoạt động KH&CN đạt ở mức thấp. Trong khi đó, ngân sách Nhà nước đầu tư cho KH&CN từ năm 2000 đến nay đều đạt mức 2% tổng chi ngân sách hàng năm. Kể từ năm 2000, mỗi năm Nhà nước phải bỏ ra từ 2,5 đến 3 tỷ USD để nhập khẩu thiết bị, công nghệ (chỉ đứng sau giá trị nhập nguyên phụ liệu). Gần 65% giá trị nhập khẩu thiết bị, công nghệ có nguồn gốc từ Nhật Bản, Đài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, đối tượng nhập khẩu chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều đáng quan tâm là một phần không nhỏ những thiết bị, công nghệ nhập khẩu này hoàn toàn có thể chế tạo được ở trong nước.

Nguyên nhân của vấn đề này thì có nhiều nhưng chủ yếu vẫn thuộc về các doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà quản lý.

Về phía các doanh nghiệp, do còn thiếu thông tin về khả năng chế tạo của các nhà khoa học trong nước, thiếu sự tin cậy đối với các sản phẩm còn mang tính “nghiên cứu”, chưa được thử nghiệm nên chưa mạnh dạn tìm mua những thiết bị, công nghệ được sản xuất trong nước mà thường chọn phương án nhập khẩu thiết bị, công nghệ nước ngoài, tuy giá cao nhưng có vẻ đảm bảo, ít mạo hiểm và rủi ro hơn.

Về phía nhà khoa học, do thiếu điều kiện để triển khai các ý tưởng khoa học, triển khai thực nghiệm, hoàn thiện công nghệ từ các đề tài nghiên cứu và thiếu kinh phí để triển khai, thiếu thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp nên hoạt động nghiên cứu chưa sát với nhu cầu của thực tế sản xuất, chưa tạo được lòng tin đối với các doanh nghiệp. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hoá. Câu chuyện dưới đây là một ví dụ: Tại Chợ công nghệ, thiết bị Việt Nam năm 2003, sản phẩm máy tách dầu khỏi nước do nhóm các nhà khoa học thuộc Trung tâm Tư vấn ứng dụng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu được giới thiệu rộng rãi, và sau đó, sản phẩm này đã được nhận bằng sáng chế độc quyền. Với những tính năng ưu việt về tách nước, tách dầu, sản phẩm này rất cần để giải quyết vấn đề ô nhiễm nguồn nước do dầu tại các doanh nghiệp cũng như các khu vực bị sự cố tràn dầu. So với thiết bị tách dầu khỏi nước mà thế giới đang sử dụng (theo phương pháp ly tâm), thiết bị này có giá rẻ hơn từ 20 đến 30 lần, kích thước lại gọn nhẹ, có thể dễ dàng đưa lên các phương tiện di động. Thế nhưng, máy tách dầu vẫn chưa chuyển giao được cho một doanh nghiệp nào. Nguyên nhân là do thiếu vốn trong quá trình triển khai. Qua quá trình tiếp nhận hợp đồng của các doanh nghiệp tìm hiểu loại thiết bị này cho thấy, các bên muốn mua đều kèm theo điều kiện là phải chứng minh được thiết bị đã thử nghiệm thành công (tức là cần phải có được một hệ thống để thử nghiệm). Để có được một hệ thống tách dầu hoàn chỉnh phải cần tới 11,5 tỷ đồng, trong đó Nhà nước đầu tư 3 tỷ, Trung tâm lo được 3 tỷ, còn lại trông chờ vào sự đầu tư từ các doanh nghiệp, nhưng đáng tiếc là chưa có doanh nghiệp nào tin tưởng để đầu tư.

Về phía nhà nước, do trong khâu tuyển chọn đầu vào còn mang nặng tính hành chính, cơ chế xin - cho, nên đa số đề tài, dự án chưa xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế sản xuất hay từ những vấn đề của doanh nghiệp. Bởi vậy, những thiết bị, công nghệ được tạo ra từ các đề tài, dự án trên không được các doanh nghiệp sử dụng, mua bán. Hơn nữa, chúng ta chưa có được một chính sách hay một chiến lược cụ thể hỗ trợ các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp để các kết quả nghiên cứu đến với thực tế sản xuất, qua đó thương mại hoá chúng. Thực tế cho thấy, chúng ta mới chỉ quan tâm làm sao để các đề tài, dự án cho ra được kết quả, còn việc kết quả đó đến với thực tế sản xuất như thế nào thì còn thả nổi hoặc chỉ dừng lại ở những giải pháp mang tính tuyên truyền, khuyến khích một cách hình thức... Trong khi, từ kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án tới việc áp dụng thực tế còn một khoảng cách khá xa. Trong mắt xích quan trọng này cần thiết phải có “bà đỡ” thực sự để cho ra đời những “đứa trẻ” khoẻ mạnh và thông minh. Kinh nghiệm của Hàn Quốc là một ví dụ. Trong giai đoạn đầu của cuộc cách mạng KH&CN, bản thân Chính phủ Hàn Quốc đã mua lại các kết quả nghiên cứu của Viện KIST (Viện KH&CN Hàn Quốc) để đưa tới các doanh nghiệp và thực tế sản xuất, qua đó thương mại hoá các kết quả và dần hình thành thị trường công nghệ, nhờ vậy mà đất nước này mới có được một nền KH&CN hùng mạnh như ngày nay.

Để giảm bớt nghịch lý trên, dần dần thương mại hoá các kết quả nghiên cứu, hình thành thị trường công nghệ, chúng tôi xin kiến nghị một số giải pháp sau đây:

• Đổi mới phương thức quản lý, xây dựng hệ thống quản lý KH&CN dựa trên cơ sở hợp đồng. Việc đầu tiên phải tiến hành là tìm kiếm khách hàng, cùng khách hàng lựa chọn mặt hàng, sau đó bắt tay cùng khách hàng nghiên cứu khi đã nhận được tiền hợp đồng. Như vậy, một khi khách hàng đã tài trợ cho nghiên cứu thì bản thân họ đã tự nguyện ứng dụng thiết bị, công nghệ mới, dù rằng có thể có những rủi ro.

• Nhà nước phải là “bà đỡ” cho các kết quả nghiên cứu bằng cách mua lại các kết quả nghiên cứu, từ đó đầu tư triển khai tới thực tế sản xuất và các doanh nghiệp. Làm được như vậy, sẽ dần tạo nên một thị trường mua bán, trao đổi công nghệ.

• Tạo lập những cơ chế, chính sách thiết thực để thúc đẩy mối liên kết, hợp tác trong tam giác phát triển giữa 3 nhà (khoa học, quản lý, doanh nghiệp), để họ xích lại gần nhau hơn vì những mục tiêu, quyền lợi của mỗi bên và cho cả sự phát triển chung của nền KH&CN nước nhà.

• Hình thành những tổ chức trung gian chuyên môi giới mua, bán và làm các dịch vụ chuyển giao KH&CN từ nhà nghiên cứu tới doanh nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nước phát triển thì những tổ chức trung gian này rất quan trọng để liên kết giữa cung và cầu về công nghệ, kết nối từ nhà khoa học tới doanh nghiệp và ngược lại. Ở Việt Nam hiện còn thiếu loại hình hoạt động này.

• Mở rộng sự hợp tác, trao đổi quốc tế về KH&CN, nhất là trong bối cảnh và xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá hiện nay, khi mà Việt Nam sắp trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và nhiều tổ chức khác nữa. Qua đó, kết hợp hài hòa giữa tiếp nhận chuyển giao công nghệ quốc tế với tri thức của người Việt Nam để tạo ra những thiết bị, công nghệ mang thương hiệu Việt, cạnh tranh và từng bước thay thế các thiết bị, công nghệ nhập ngoại.

Với sự nỗ lực của tất cả các bên, hy vọng trong tương lai gần chúng ta sẽ có được những kết quả nghiên cứu có chất lượng tốt, cho ra đời những thiết bị, công nghệ hiện đại, được thương mại hoá để phát huy nội lực, qua đó dần hình thành một nền KH&CN tiên tiến của đất nước.

Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, 09/2006

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.