Để mía đạt năng suất 100 tấn/ha
Xin giới thiệu quy trình thâm canh mía đạt 80-100 tấn/ha, chữ đường 11 CCS.
Chọn đất: Yêu cầu đất có tầng canh tác sâu, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt.
Làm đất: Gồm 2 bước, cày bừa và làm rãnh trồng.
- Đất bãi đất ruộng cày sâu 25-30cm và bừa 2-3 lần, rạch hàng 1 lần.
- Đất đồi: Thiết kế hàng mía theo đường đồng mức (áp dụng cày không lật với độ sâu 40-50cm); nên làm đất trước khi trồng 40-60 ngày để cho đất có thời gian ải, diệt nguồn sâu bệnh.
- Vùng ĐBSCL: Đất trũng phải lên líp rộng 6-20m, cao 25-35cm. Rãnh mía sâu 20-25 cm, đáy rãnh phủ lớp đất xốp 5-10cm.
Áp dụng chu kỳ luân canh 4 năm: 1 năm mía tơ + 2 năm mía gốc + 1 năm cây trồng khác (cây lương thực, cây họ đậu).
Bộ giống mía chủ lực cho các vùng gồm:
Miền Bắc: QĐ 93-159, QĐ11, QĐ15, QĐ17, My55-14, VĐ63-237, VĐ79-177, VĐ81-3254, ROC16, ROC10, ROC22…
Miền Trung - Tây Nguyên: ROC10, ROC 16, R570, RB 72-454, VN84-422, VN84-4137, VN85-1427, VĐ81-3254, My55-14…
Miền Nam: K84-200, ROC16, ROC 22, ROC 23, QĐ11, VN84-422, VN85-1427, VN85-1859, VN84-1427, VN84-1437, VN65-65, VĐ81-3254…
Tuỳ theo điều kiện đất đai từng vùng và nhu cầu nguyên liệu cụ thể cho từng nhà máy để bố trí tỷ lệ các nhóm giống chín sớm (QĐ93-159, ROC22, ROC16…), chín trung bình (ROC10, VN85-1427, C85-391…), chín muộn (My55-14, K84-200, VĐ63-237…) cho phù hợp. Đặc biệt, hom giống phải sạch sâu bệnh, không giập nát, còn tươi.
Thời vụ trồng mới:
Miền Bắc: Vụ xuân trồng từ tháng 1 đến tháng 3 với giống chín trung bình và muộn. Vụ thu đông trồng tháng 9-11, chủ yếu dùng giống chín sớm. Vụ hè thu trồng tháng 6-7, chủ yếu để làm giống cho vụ xuân năm sau.
Duyên hải miền Trung: Trồng tháng 7 đến tháng 9.
Miền Nam: Vụ 1 trồng từ tháng 5 đến tháng 6 khi bắt đầu mùa mưa, vụ 2 trồng tháng 10-11.
Mật độ: Tuỳ theo điều kiện đất đai và giống mía để bố trí mật độ phù hợp nhưng phải đảm bảo số cây cơ bản 80.000-120.000 cây/ha, lượng hom giống cần từ 35.000-40.000 hom/ha (mỗi hom có 3 mắt), tương đương 8-10 tấn giống/ha. Khoảng cách hàng 1-1,2m. Đặt hom thành hàng đơn hoặc 2 hàng so le dọc theo rãnh, phủ kín đất 3-5cm (vụ hè thu) hoặc 7-10 cm (vụ đông). Đất khô cần nén chặt hom cho tiếp xúc với đất. Vụ đông xuân nếu có điều kiện nên tưới ẩm sau khi trồng và sử dụng màng phủ nông nghiệp để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại cho mía.
Lượng phân bón (1 ha): Phân hữu cơ 20-25 tấn (phân chuồng), phân vi sinh 2-3 tấn; vôi bột 500-1.000 kg; đạm urê 500-700 kg; supe lân 800-1.000 kg; kali 500-600 kg. Trong trường hợp đã dùng phân NPK thì giảm lượng phân đơn tương ứng.
Cách bón
- Bón lót: Vôi được rải trên mặt ruộng trước khi cày - bừa lần cuối; toàn bộ phân chuồng, phân lân, 1/3 phân đạm, 1/2 phân kali, bón theo rạch trước khi trồng.
- Bón thúc lần 1: 1/3 lượng đạm khi mía kết thúc nảy mầm (có 4-5 lá).
- Bón thúc lần 2: 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng kali còn lại khi mía kết thúc đẻ nhánh (9-12 lá).
Kỹ thuật làm cỏ, xới xáo và vun gốc:
Mía tơ: Sau trồng khoảng 1 tháng dặm những chỗ cây chế bằng bầu cây, khi dặm đảm bảo đủ ẩm để mía sinh trưởng bình thường. Làm cỏ và vun gốc cùng thời điểm với 2 lần bón phân thúc, nếu có điều kiện kết hợp tưới đủ ẩm cho mía để đạt năng suất cao.
Mía lưu gốc: Sau khi thu hoạch 5-7 ngày, tiến hành bạt gốc sát đất, vệ sinh đồng ruộng và cày xới giữa hàng, đảm bảo sạch cỏ. Đặc biệt, lượng phân bón cho mía gốc tăng hơn mía tơ 10-20%.
Lưu ý, có thể trồng xen cây đậu đỗ vào giữa hàng mía vụ xuân đối với mía tơ và mía gốc sau khi thu hoạch.
Phòng trừ sâu bệnh: Các đối tượng dịch hại chủ yếu là rệp bông trắng, bọ hung đục gốc, sâu đục thân, bệnh than đen, bệnh trắng lá. Phòng trừ bằng cách dùng giống kháng bệnh, áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), khi sâu bệnh đến ngưỡng gây hại thì sử dụng thuốc hoá học theo nguyên tắc 4 đúng.
Nguồn: Kinh tế V.A.C, số 14, 15, 3-10/4/2006, tr 10








