Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 07/08/2006 23:00 (GMT+7)

Để mía đạt năng suất 100 tấn/ha

Xin giới thiệu quy trình thâm canh mía đạt 80-100 tấn/ha, chữ đường 11 CCS.

Chọn đất: Yêu cầu đất có tầng canh tác sâu, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, thoát nước tốt.

Làm đất: Gồm 2 bước, cày bừa và làm rãnh trồng.

- Đất bãi đất ruộng cày sâu 25-30cm và bừa 2-3 lần, rạch hàng 1 lần.

- Đất đồi: Thiết kế hàng mía theo đường đồng mức (áp dụng cày không lật với độ sâu 40-50cm); nên làm đất trước khi trồng 40-60 ngày để cho đất có thời gian ải, diệt nguồn sâu bệnh.

- Vùng ĐBSCL: Đất trũng phải lên líp rộng 6-20m, cao 25-35cm. Rãnh mía sâu 20-25 cm, đáy rãnh phủ lớp đất xốp 5-10cm.

Áp dụng chu kỳ luân canh 4 năm: 1 năm mía tơ + 2 năm mía gốc + 1 năm cây trồng khác (cây lương thực, cây họ đậu).

Bộ giống mía chủ lực cho các vùng gồm:

Miền Bắc: QĐ 93-159, QĐ11, QĐ15, QĐ17, My55-14, VĐ63-237, VĐ79-177, VĐ81-3254, ROC16, ROC10, ROC22…

Miền Trung - Tây Nguyên: ROC10, ROC 16, R570, RB 72-454, VN84-422, VN84-4137, VN85-1427, VĐ81-3254, My55-14…

Miền Nam: K84-200, ROC16, ROC 22, ROC 23, QĐ11, VN84-422, VN85-1427, VN85-1859, VN84-1427, VN84-1437, VN65-65, VĐ81-3254…

Tuỳ theo điều kiện đất đai từng vùng và nhu cầu nguyên liệu cụ thể cho từng nhà máy để bố trí tỷ lệ các nhóm giống chín sớm (QĐ93-159, ROC22, ROC16…), chín trung bình (ROC10, VN85-1427, C85-391…), chín muộn (My55-14, K84-200, VĐ63-237…) cho phù hợp. Đặc biệt, hom giống phải sạch sâu bệnh, không giập nát, còn tươi.

Thời vụ trồng mới:

Miền Bắc: Vụ xuân trồng từ tháng 1 đến tháng 3 với giống chín trung bình và muộn. Vụ thu đông trồng tháng 9-11, chủ yếu dùng giống chín sớm. Vụ hè thu trồng tháng 6-7, chủ yếu để làm giống cho vụ xuân năm sau.

Duyên hải miền Trung: Trồng tháng 7 đến tháng 9.

Miền Nam: Vụ 1 trồng từ tháng 5 đến tháng 6 khi bắt đầu mùa mưa, vụ 2 trồng tháng 10-11.

Mật độ: Tuỳ theo điều kiện đất đai và giống mía để bố trí mật độ phù hợp nhưng phải đảm bảo số cây cơ bản 80.000-120.000 cây/ha, lượng hom giống cần từ 35.000-40.000 hom/ha (mỗi hom có 3 mắt), tương đương 8-10 tấn giống/ha. Khoảng cách hàng 1-1,2m. Đặt hom thành hàng đơn hoặc 2 hàng so le dọc theo rãnh, phủ kín đất 3-5cm (vụ hè thu) hoặc 7-10 cm (vụ đông). Đất khô cần nén chặt hom cho tiếp xúc với đất. Vụ đông xuân nếu có điều kiện nên tưới ẩm sau khi trồng và sử dụng màng phủ nông nghiệp để giữ ẩm và hạn chế cỏ dại cho mía.

Lượng phân bón (1 ha): Phân hữu cơ 20-25 tấn (phân chuồng), phân vi sinh 2-3 tấn; vôi bột 500-1.000 kg; đạm urê 500-700 kg; supe lân 800-1.000 kg; kali 500-600 kg. Trong trường hợp đã dùng phân NPK thì giảm lượng phân đơn tương ứng.

Cách bón

- Bón lót: Vôi được rải trên mặt ruộng trước khi cày - bừa lần cuối; toàn bộ phân chuồng, phân lân, 1/3 phân đạm, 1/2 phân kali, bón theo rạch trước khi trồng.

- Bón thúc lần 1: 1/3 lượng đạm khi mía kết thúc nảy mầm (có 4-5 lá).

- Bón thúc lần 2: 1/3 lượng đạm và 1/2 lượng kali còn lại khi mía kết thúc đẻ nhánh (9-12 lá).

Kỹ thuật làm cỏ, xới xáo và vun gốc:

Mía tơ: Sau trồng khoảng 1 tháng dặm những chỗ cây chế bằng bầu cây, khi dặm đảm bảo đủ ẩm để mía sinh trưởng bình thường. Làm cỏ và vun gốc cùng thời điểm với 2 lần bón phân thúc, nếu có điều kiện kết hợp tưới đủ ẩm cho mía để đạt năng suất cao.

Mía lưu gốc: Sau khi thu hoạch 5-7 ngày, tiến hành bạt gốc sát đất, vệ sinh đồng ruộng và cày xới giữa hàng, đảm bảo sạch cỏ. Đặc biệt, lượng phân bón cho mía gốc tăng hơn mía tơ 10-20%.

Lưu ý, có thể trồng xen cây đậu đỗ vào giữa hàng mía vụ xuân đối với mía tơ và mía gốc sau khi thu hoạch.

Phòng trừ sâu bệnh: Các đối tượng dịch hại chủ yếu là rệp bông trắng, bọ hung đục gốc, sâu đục thân, bệnh than đen, bệnh trắng lá. Phòng trừ bằng cách dùng giống kháng bệnh, áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), khi sâu bệnh đến ngưỡng gây hại thì sử dụng thuốc hoá học theo nguyên tắc 4 đúng.

Nguồn: Kinh tế V.A.C, số 14, 15, 3-10/4/2006, tr 10

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.