Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 07/08/2006 15:00 (GMT+7)

Đầu tư vốn ra nước ngoài - sân chơi mới nhiều bỡ ngỡ?

Xu hướng tất yếu

Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư trong năm 2005, tổng số dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam lên tới 140 dự án với số vốn hơn 320 triệu USD quy mô bình quân mỗi dự án đạt hơn 2 triệu USD. Trong đó lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào là công nghiệp và xây dựng với hơn 40% tổng số dự án và 66% tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra còn có đầu tư về nông – lâm – ngư nghiệp và các lĩnh vực dịch vụ khác nhưng nhìn chung vẫn còn thấp chỉ chiếm 20% tổng số dự án và khoảng 25% số vốn.

Trong số 30 quốc gia và vùng lãnh thổ mà các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư có Irắc là quốc gia được đầu tư nhiều nhất với tổng số vốn đầu tư lên đến 100 triệu USD, tiếp đến là Lào, Nga, Campuchia và Angiêri.

Theo đánh giá của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư thì đầu tư ra nước ngoài là một xu hướng tất yếu phản ánh một quá trình kinh tế phát triển ổn định và tăng trưởng cao, các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân đang tìm nhiều cách mở rộng thị trường, hướng ra bên ngoài. Những dự án có quy mô lớn về thăm dò dầu khí đã có sự hiện diện của Tổng Công ty Dầu khí Việt Namở Irắc, Indonesia… Nhìn chung số lượng dự án và quy mô đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam đã tăng lên theo thời gian do ngày càng có nhiều nhà đầu tư có khả năng tài chính cũng như sự quan tâm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong thời gian tới với việc có hiệu lực của Luật đầu tư chung, những khó khăn trong vấn đề đầu tư vốn ra nước ngoài dần được tháo gỡ, thì việc các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài chắc chắn sẽ còn tăng lên.

Những khó khăn đang được tháo gỡ

Thời gian qua, điểm hạn chế nổi bật trong hoạt động đầu tư vốn ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam là khó khăn trong triển khai do khả năng tài chính hạn hẹp, năng lực còn yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh. Ngoài ra là những khó khăn khác mà doanh nghiệp gặp phải như những bất lợi cho thanh toán, chi phí cho sử dụng lao động quá cao… chưa có những đánh giá, khảo sát về hiệu quả của thị trường làm cơ sở thông tin cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, khi Luật đầu tư chung chưa có hiệu lực thi hành thì các quy trình thẩm định, cấp phép mới chỉ dừng ở việc thực hiện theo các quy định trong nghị định. Còn các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, mối liên hệ giữa họ với cơ quan ngoại giao, thương vụ còn lỏng lẻo nên khi có vụ việc tranh chấp xảy ra các doanh nghiệp chưa nhận được sự giúp đỡ tối đa từ Nhà nước.

Luật đầu tư chung quy định doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế đều được đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp nhằm mục đích thu lợi nhuận theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước tiếp nhận đầu tư (Khoản 1 điều 74). Quy định mới này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp, đầu tư ra nước ngoài và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Việt Nam tại nước ngoài theo các Điều ước Quốc tế. Riêng đối với doanh nghiệp FDI (Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài) được phép đầu tư ra nước ngoài nhưng cần thêm điều kiện như đã góp đủ vốn pháp định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam (Khoản 1.b Điều 76). Các nhà đầu tư được tiếp cận các nguồn vốn tín dụng bình đẳng và chuyển vốn đầu tư bằng tiền, các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. Ngoài ra các doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm chi phí khi được phép “tuyển dụng lao động Việt Nam sang làm việc tại cơ sở sản xuất, kinh doanh do nhà đầu tư thành lập ở nước ngoài” (Khoản 3 điều 77). Quy định này mở ra một hướng mới trong xuất khẩu cũng như quản lý lao động của chúng ta ở nước ngoài. Nhà đầu tư trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý lao động và báo cáo với Nhà nước.

Tuy nhiên Luật cũng quy định chặt chẽ hơn về nghĩa vụ của các nhà đầu tư ra nước ngoài để khắc phục tình trạng nhiều nhà đầu tư không thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, hay khi kết thúc đầu tư không chuyển toàn bộ vốn và tài sản về nước. Điều 78 Luật đầu tư chung đã có những quy định cụ thể về vấn đề này. Cụ thể, nhà đầu tư ra nước ngoài phải có các nghĩa vụ: Chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư ra nước ngoài về theo chế độ báo cáo định kỳ về tài chính và hoạt động đầu tư ở nước ngoài; Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam; Khi kết thúc đầu tư ở nước ngoài, chuyển toàn bộ vốn, tài sản hợp pháp về nước theo quy định của pháp luật; Trường hợp nhà đầu tư chưa chuyển về nước vốn, tài sản, lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 5 điều này thì phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo dự đoán của các nhà kinh tế trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đầu tư vào các dự án trực tiếp mà sẽ mua cổ p hiếu, trái phiếu tham gia thị trường chứng khoán quốc tế. Những kinh nghiệm bán đấu giá cổ phiếu của một số công ty Nhà nước chuyển sang công ty cổ phần thông qua giao dịch chứng khoán trong thời gian qua tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là một cách thu hút vốn đầu tư có hiệu quả. Tuy vận các hoạt động đầu tư gián tiếp vẫn chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn thông qua giao dịch chứng khoán. Các hoạt động này vẫn cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật như: Luật chứng khoán, Luật ngân hàng…

Bên cạnh đó các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài đang xem xét, hướng dẫn các quy định cụ thể trong Luật đầu tư chung nhằm đẩy nhanh tiến độ thẩm định cấp phép cho các dự án, giảm thiểu thủ tục hành chính. Trong đó nhấn mạnh tới việc rút gọn tối đa thời gian cũng như thủ tục xin ý kiến của các Bộ, ngành liên quan. Nhà nước đang tạo hành lang pháp lý thông thoáng và những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể “mang chuông đi đánh xứ người”.

Nguồn: Pháp lý, số 4, 2006, tr 31

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.
Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị quán triệt và triển khai Nghị quyết 10-NQ/TW
Sáng 30/6, tại Hà Nội, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Ban biên tập vusta.vn trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị.
Một năm chính quyền địa phương hai cấp: Nhìn từ chiều sâu văn hóa làng xã
Một năm thực hiện chính quyền địa phương hai cấp không chỉ là câu chuyện về tinh gọn bộ máy, tổ chức lại địa giới hành chính màcòn là phép thử về năng lực quản trị những giá trị mềm: tên làng, ký ức cộng đồng, di sản, thiết chế văn hóa, không gian tín ngưỡng và cảm giác thuộc về của người dân.