Đầu tư vốn ra nước ngoài - sân chơi mới nhiều bỡ ngỡ?
Xu hướng tất yếu
Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và đầu tư trong năm 2005, tổng số dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam lên tới 140 dự án với số vốn hơn 320 triệu USD quy mô bình quân mỗi dự án đạt hơn 2 triệu USD. Trong đó lĩnh vực đầu tư chủ yếu của các doanh nghiệp Việt Nam tập trung vào là công nghiệp và xây dựng với hơn 40% tổng số dự án và 66% tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra còn có đầu tư về nông – lâm – ngư nghiệp và các lĩnh vực dịch vụ khác nhưng nhìn chung vẫn còn thấp chỉ chiếm 20% tổng số dự án và khoảng 25% số vốn.
Trong số 30 quốc gia và vùng lãnh thổ mà các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư có Irắc là quốc gia được đầu tư nhiều nhất với tổng số vốn đầu tư lên đến 100 triệu USD, tiếp đến là Lào, Nga, Campuchia và Angiêri.
Theo đánh giá của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ kế hoạch đầu tư thì đầu tư ra nước ngoài là một xu hướng tất yếu phản ánh một quá trình kinh tế phát triển ổn định và tăng trưởng cao, các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân đang tìm nhiều cách mở rộng thị trường, hướng ra bên ngoài. Những dự án có quy mô lớn về thăm dò dầu khí đã có sự hiện diện của Tổng Công ty Dầu khí Việt Namở Irắc, Indonesia… Nhìn chung số lượng dự án và quy mô đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam đã tăng lên theo thời gian do ngày càng có nhiều nhà đầu tư có khả năng tài chính cũng như sự quan tâm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong thời gian tới với việc có hiệu lực của Luật đầu tư chung, những khó khăn trong vấn đề đầu tư vốn ra nước ngoài dần được tháo gỡ, thì việc các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài chắc chắn sẽ còn tăng lên.
Những khó khăn đang được tháo gỡ
Thời gian qua, điểm hạn chế nổi bật trong hoạt động đầu tư vốn ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam là khó khăn trong triển khai do khả năng tài chính hạn hẹp, năng lực còn yếu kém, thiếu kinh nghiệm trong kinh doanh. Ngoài ra là những khó khăn khác mà doanh nghiệp gặp phải như những bất lợi cho thanh toán, chi phí cho sử dụng lao động quá cao… chưa có những đánh giá, khảo sát về hiệu quả của thị trường làm cơ sở thông tin cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó, khi Luật đầu tư chung chưa có hiệu lực thi hành thì các quy trình thẩm định, cấp phép mới chỉ dừng ở việc thực hiện theo các quy định trong nghị định. Còn các doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, mối liên hệ giữa họ với cơ quan ngoại giao, thương vụ còn lỏng lẻo nên khi có vụ việc tranh chấp xảy ra các doanh nghiệp chưa nhận được sự giúp đỡ tối đa từ Nhà nước.
Luật đầu tư chung quy định doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế đều được đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức trực tiếp hay gián tiếp nhằm mục đích thu lợi nhuận theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước tiếp nhận đầu tư (Khoản 1 điều 74). Quy định mới này đã tạo điều kiện thuận lợi cho Doanh nghiệp, đầu tư ra nước ngoài và bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư Việt Nam tại nước ngoài theo các Điều ước Quốc tế. Riêng đối với doanh nghiệp FDI (Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài) được phép đầu tư ra nước ngoài nhưng cần thêm điều kiện như đã góp đủ vốn pháp định, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước Việt Nam (Khoản 1.b Điều 76). Các nhà đầu tư được tiếp cận các nguồn vốn tín dụng bình đẳng và chuyển vốn đầu tư bằng tiền, các tài sản hợp pháp khác ra nước ngoài để thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối. Ngoài ra các doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm chi phí khi được phép “tuyển dụng lao động Việt Nam sang làm việc tại cơ sở sản xuất, kinh doanh do nhà đầu tư thành lập ở nước ngoài” (Khoản 3 điều 77). Quy định này mở ra một hướng mới trong xuất khẩu cũng như quản lý lao động của chúng ta ở nước ngoài. Nhà đầu tư trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý lao động và báo cáo với Nhà nước.
Tuy nhiên Luật cũng quy định chặt chẽ hơn về nghĩa vụ của các nhà đầu tư ra nước ngoài để khắc phục tình trạng nhiều nhà đầu tư không thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, hay khi kết thúc đầu tư không chuyển toàn bộ vốn và tài sản về nước. Điều 78 Luật đầu tư chung đã có những quy định cụ thể về vấn đề này. Cụ thể, nhà đầu tư ra nước ngoài phải có các nghĩa vụ: Chuyển lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư ra nước ngoài về theo chế độ báo cáo định kỳ về tài chính và hoạt động đầu tư ở nước ngoài; Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Việt Nam; Khi kết thúc đầu tư ở nước ngoài, chuyển toàn bộ vốn, tài sản hợp pháp về nước theo quy định của pháp luật; Trường hợp nhà đầu tư chưa chuyển về nước vốn, tài sản, lợi nhuận và các khoản thu nhập từ việc đầu tư ở nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 5 điều này thì phải được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Theo dự đoán của các nhà kinh tế trong thời gian tới các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ đầu tư vào các dự án trực tiếp mà sẽ mua cổ p hiếu, trái phiếu tham gia thị trường chứng khoán quốc tế. Những kinh nghiệm bán đấu giá cổ phiếu của một số công ty Nhà nước chuyển sang công ty cổ phần thông qua giao dịch chứng khoán trong thời gian qua tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh là một cách thu hút vốn đầu tư có hiệu quả. Tuy vận các hoạt động đầu tư gián tiếp vẫn chủ yếu là nguồn vốn ngắn hạn thông qua giao dịch chứng khoán. Các hoạt động này vẫn cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật như: Luật chứng khoán, Luật ngân hàng…
Bên cạnh đó các cơ quan quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài đang xem xét, hướng dẫn các quy định cụ thể trong Luật đầu tư chung nhằm đẩy nhanh tiến độ thẩm định cấp phép cho các dự án, giảm thiểu thủ tục hành chính. Trong đó nhấn mạnh tới việc rút gọn tối đa thời gian cũng như thủ tục xin ý kiến của các Bộ, ngành liên quan. Nhà nước đang tạo hành lang pháp lý thông thoáng và những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp Việt Nam có thể “mang chuông đi đánh xứ người”.
Nguồn: Pháp lý, số 4, 2006, tr 31








