Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/04/2007 00:02 (GMT+7)

Đạo Cao Đài tại miền Nam qua luận án của một nữ tác giả người Mỹ

Trước hết, tác giả cho rằng đạo Cao Đài là một loại tín ngưỡng phát triển từ đời sống văn hoá truyền thống dân gian và là sản phẩm trực tiếp của một xã hội mang nặng lòng tin vào thế giới siêu hình và sức mạnh của thế giới đồng cốt.

Sự hình thành đạo Cao Đài vừa mang nội dung của loại tam giáo cổ truyền của phương Đông mà Việt Nam đã chịu ảnh hưởng sâu đậm, vừa của thần linh luận (của châu Âu) lại vừa chịu ảnh hưởng của Hội tam điểm Francmaconnerie (viẹc thờ Thiên nhãn). Đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến tác động của Kitô giáo về tư tưởng (thuyết cứu thế, mạt thế luận) và về mặt tổ chức của các loại hình nghi lễ, các hệ thống chức sắc.

Ngoài ra, qua các phương pháp đối chiếu so sánh về tôn giáo học, tác giả cho rằng đạo Cao Đài nhuộm nhiều màu sắc tôn giáo khác nhau “như hình ảnh giáo tông Cao Đài”, “Thế Thiên hành đạo” bằng cơ bút tương tự như hình ảnh của Mohammad - nhà tiên tri Hồi giáo. Hơn nữa tác giả cho rằng nếu Do Thái giáo tự xem dân tộc Do Thái là dân tộc được Đức Chúa Trời chọn lựa thì đạo Cao Đài tự xem là dân tộc đã được Thượng đế ban cho đức tín mới bằng sự thống nhất các tôn giáo đang tồn tại, tác giả nhận định: “Cao Đài đúng là sự thống nhất các tôn giáo - một sự thống nhất bằng phép cộng”. Xét về mặt phương pháp luận của luận án, chúng ta thấy rằng tác giả chú ý đến những tiền đề xã hội, kinh tế và tư tưởng khi đề cập đến bối cảnh ra đời của đạo Cao Đài như một phản ứng của một bộ phận quần chúng tại Nam kỳ vào hồi bấy giờ.

Sau chiến tranh thứ nhất (1914 - 1918), các chủ địa và các nhà tư sản mới xuất hiện. Họ đã bất mãn với giới cầm quyền Pháp do bị kìm hãm về kinh tế. Trong khi đó giai cấp tư sản, tiểu tư sản không hài lòng với vị trí của mình trong bộ máy thực dân đã tự quay về để tìm lại bản ngã xã hội và văn hóa bằng thứ tôn giáo mới đó là đạo Cao Đài.

Tác giả cũng đã nhận định rằng sở dĩ sự kiện nông dân theo đạo Cao Đài hàng loạt vì họ không có ruộng, đói khổ vì ách tô cao của giới địa chủ vì truyền thống chống đối chính trị của nông dân luôn mang nội dung tôn giáo (tác giả dùng từ content).

Bất lực trước hiện thực xã hội, họ phải đi tìm nguồn an ủi trong ảo tưởng. Điều này không khác với những người nô lệ thời đế quốc La Mã cổ đại tìm đến Kitô giáo, mặc dù Cao Đài giáo và Kitô giáo ra đời trong điều kịên hoàn cảnh và không gian khác nhau. Cũng như người nô lệ trong Đế quốc La Mã cổ đại, người nông dân trong vùng đất Nam kỳ đã bị áp bức, bóc lột. Họ chịu đói khổ dưới thời thực dân Pháp và cũng trải qua những cuộc khởi nghĩa bị thất bại – trong đó điển hình là cuộc nổi dậy của Thiên Địa Hội đã bị đàn áp dã man.

Và không khác với Kitô giáo sơ kỳ, Cao Đài giáo đã tuyên truyền cho Mặc thế luận và Thuyết cứu thế. Hai luận thuyết này của tôn giáo luôn luôn song hành nhau và xuất hiện cùng nhau trong thời kỳ xã hội bất ổn định, hỗn loạn…

Tuy nhiên, điều khác nhau giữa Kitô giáo sơ kỳ và Cao Đài là Cơ Đốc giáo do những người nô lệ khởi xướng thì đạo Cao Đài lại do những người chủ nô mới chủ trương.

Luận án còn tiếp tục phát triển đi sâu về nhiều vấn đề mà chúng ta không đề cập ở đây. Những vấn đề gai góc và nhạy cảm về mối quan hệ giữa sự ra đời của đạo Cao Đài với sự xuất hiện những bước đầu của phong trào Cộng sản Việt Nam . Nói một cách khác , việc chính quyền thực dân cho phép thành lập đạo Cao Đài trong một tình hình chính trị rối ren lúc ấy có liên quan đến việc giành giật quần chúng theo chính sách chống cộng và có dính líu gì đến chính sách ngu dân được Bùi Quang Chiêu thể hiện bằng lời nói: “Sự thầm lặng của người nông dân do ngu dốt và thuyết định mệnh là đảm bảo duy nhất cho trật tự xã hội?”

Điểm đặc biệt mà ta chú ý đến tác giả người Mỹ này trong phần kết luận khi nói về tương lai, tác giả cho rằng: “Mặc dù trong quá khứ đã từng xảy ra những xung đột giữa cách mạng và đạo Cao Đài nhưng đạo Cao Đài sẽ có một vị trí ở miền Nam tương xứng với vị trí của Công giáo ở miền Bắc”. Ý kiến đó của tác giả được hiểu theo nghĩa cộng đồng Cao Đài dù sao vẫn nằm trong cộng đồng rộng lớn của dân tộc Việt Nam theo chính sách tự do tín ngưỡng của một đất nước Việt Nam độc lập và thống nhất. Chúng ta đã không hiểu sai thiện cảm của tác giả vì ngay trong lời đề tặng cho các chức sắc và tín đồ Cao Đài tác giả đã mong mỏi rằng họ sẽ tìm thấy hoà bình và phổ độ (salvation) trong một nước Việt Nam mới.

Tuy nhiên, luận án của tác giả người Mỹ đã để lại một vài suy nghĩ chưa thống nhất những nhận định của tác giả khi đưa ra một cấu trúc mang tính thống kê về thành phần của các sáng lập viên ra đạo Cao Đài. Một là giới địa chủ 39%. Hai là giới tiểu tư sản 37% (thực chất là giới công chức của Pháp). Ba là giới hoạt động tôn giáo 16%. Bốn là giới kỳ hào 6%...theo tác giả hai giới căn bản là giới địa chủ và giới kỳ hào được xem như là một.

Theo một số nhà nghiên cứu mặc dù đã đồng ý với tác giả vè tính hiện thực của mối mâu thuẫn giữa các tầng lớp trên và tầng lớp tiểu tư sản với thực dân Pháp, tuy nhiên những mâu thuẫn đó là bản chất của xã hội Việt Nam trong hoàn cảnh đan xen hai chế độ mà tên gọi được giới văn học chọn lựa là chế độ thực dân bán phong kiến trước Cách mạng, nhưng cũng theo các nhà nghiên cứu nói trên: “Quyết định về sự xuất hiện của đạo Cao Đài có thể bắt nguồn từ mối mâu thuẫn khác lớn hơn: đó là mâu thuẫn giữa nông dân với thực dân đế quốc và giữa họ với địa chủ. Phải chăng những mâu thuẫn ấy là chìa khóa mở cánh cửa cho ra đời đạo Cao Đài cùng sự phát triển nhanh chónh của đạo này”.

Nhìn chung, luận án tiến sĩ triết học của tác giả tuy chưa làm hài lòng những nhà nghiên cứu khó tính mang nặng trong lòng những nỗi đau thương của một dân tộc bị thống trị, áp bức mà cần phải làm rõ thêm để càng gần với sự thật chân chính. Tuy nhiên, luận án là một công trình nghiên cứu thật công phu, chứa nhiều sử liệu quan trọng và đáng tin cậy để truy tìm gốc tích đạo Cao Đài.

Do đó, những nhà nghiên cứu của Việt Nam tạm hài lòng và cảm thông cho tác giả vì không thể đòi hỏi tác giả phải vượt qua những điều kiện mà tác giả không thể vượt qua trong điều kiện của một tác giả nữ có nguồn gốc Hoa Kỳ.

Hơn thế nữa, các giáo phái - dù xuất hiện trong điều kiện nào của đất nước, nó cũng không thoát khỏi môi trường chiến đấu vì sự tồn tại của dân tộc, trong đó có bản thân giáo phái - có lúc thế này, có lúc thế khác để thích nghi. Nó cũng không bao giờ suy nghĩ đến mức phủ định lịch sử tồn tại của dân tộc.Vì thế trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước, các giáo phái nói chung, Cao Đài nói riêng đều là da thịt của dân tộc và luôn cần được Tổ quốc quan tâm. Một sự va chạm nhẹ có thể gây nên tổn thất nặng nề của dân tộc trong quá trình hội nhập từ nay cho đến tương lai khi cấn tiếp cận, đan xen với nhiều tôn giáo khác nhau, nhiều nền văn hóa xa lạ.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.