Đánh giá vị thế của ngoại ngữ ở một quốc gia
I.Mở đầu
Để xét vị thế của một ngôn ngữ nào đó người ta thường tính đến những nhân tố sau đây: 1/ Nó có được công nhận một ngôn ngữ chính thức ở một hoặc nhiều quốc gia không; 2/ Nó có được giảng dạy như một ngôn ngữ thứ hai không. 3/ Nó có được đông đảo người sử dụng hay không. Chẳng hạn, để cổ vũ cho vị thế toàn cầu của tiếng Anh trong thời đại hiện nay, người ta công bố rằng nó là ngôn ngữ chính thức của hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới (như vậy chiếm khoảng 1/3 số quốc gia và vùng lãnh thổ); nó được dạy như một ngoại ngữ ở hơn 100 nước; trên thế giới ước tính có khoảng 1,8 tỉ người (hoặc theo một nguồn khác, có khoảng hơn 2 tỉ người) dùng tiếng Anh (trong tổng số khoảng 6,3 tỉ người trên trái đất). (xem David Crystal, 1997, Eddie Ronowiez và Collin Yallop, 1999.). Những con số trên thật “hoành tráng” và chắc là đã thuyết phục không ít người. Tuy vậy, có thể thấy rằng cách nhìn nhận trên xem ra, chưa được cụ thể lắm. Thí dụ đó là việc chưa tính đến sự khác biệt giữa các tình trạng: “là một ngôn ngữ chính thức”, “là một trong hai ngôn ngữ chính thức”, “là một trong nhiều ngôn ngữ chính thức”. Nó cũng chưa quan tâm thoả đáng đến phương diện định tính, mà mới dừng ở quy mô định lượng. Chẳng hạn, nó bỏ quên một sự thật là trong số 1,5 tỉ người ở các nước Nam Á được thụ hưởng tiếng Anh như một ngôn ngữ chính thức thì nói riêng ở Ấn Độ có 48% số người mù chữ, ở Pakixtan - hơn 62%, Bănglađét - hơn 61% (Dẫn theo Bùi Hiền, 2005). Một khi tiếng mẹ đẻ còn “mù” thì liệu với ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, một thứ tiếng nước ngoài, chất lượng sử dụng sẽ “tịt” đến thế nào?
Trong bài này chúng tôi sẽ đi sâu vào cách đánh giá vị thế của một ngôn ngữ, thử đưa ra một vài điều bổ sung mang tính chất định tínhcho cách nhìn nhận kiểu định lượngở trên.
II. Bức tranh ngoại ngữ ở Việt Nam
Trước khi đi vào cách đánh giá chúng ta hãy điểm qua một cách ngắn gọn tình hình một số ngoại ngữ ở nước ta.
Nói đến ngoại ngữ ở Việt Nam, không kể ngôn ngữ của 53 dân tộc thiểu số anh em trong quan hệ với người Việt (Kinh), người ta thường nghĩ ngay đến các thứ tiếng Pháp, Anh, Mĩ, Nga, Trung (hoặc Hán, Hoa), Đức. Thực ra còn có thể kể thêm: Ả Rập, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Bungari, Hàn (Triều), Hungari, Inđônêsia, Italia, Khơme, Latinh, Lào, Nhật. Pali (Phạn), Quốc tế ngữ (Espêrantô), Tây Ban Nha, Thái Lan, Tiệp...Muốn biết những ngoại ngữ nào thông dụng ở xứ ta thì có một cách tuy không thật chính xác, là căn cứ vào số lượng đầu sách từ điển “liên quan đến tiếng Việt, được biên soạn bằng tiếng Việt, được dịch ra tiếng Việt, xuất bản ở Việt Nam và nước ngoài từ 1651 đến hết 1998”, được thu thập và miêu tả trong cuốn “Từ điển về từ điển” của Vũ Quang Hào (1999). Bản thân sự việc xuất bản các công trình tra cứu đó cũng đã chứng tỏ hết sức rõ ràng rằng người Việt có nhu cầu thực sự về ngoại ngữ nào. Sau đây là số liệu về các từ điển dịch (đối chiếu được xếp theo thứ tự giảm dần: Anh - Việt: 221 cuốn, Pháp - Việt: 73, Nga - Việt: 54, Hán/Hoa/Trung -Việt:38, Nhật -Việt:18, Đức - Việt:10, Ba Lan - Việt:7, Bồ Đào Nha - Việt: 2, Tây Ban Nha - Việt:1... Điều này về cơ bản cũng khớp với cảm nhận chủ quan của chúng ta về các ngoại ngữ phổ biến ở nước nhà.
Dưới đây là đôi nét khái quát về một số ngoại ngữ thông dụng nhất ở Việt Nam từ trước tới nay.
1/ Tiếng Hán
Do sự chủ động truyền bá văn hoá Hán từ phía tầng lớp quan lại cai trị phương Bắc, cũng như các “kiều nhân” sang sinh cơ lập nghiệp ở Giao Chỉ, của đông đảo binh lính và dân thường (“di dân”) người Hán thường trú ở xứ ta, lại được sự tiếp sức tích cực của tầng lớp quyền quý người Việt, tiếng (chữ) Hán, đã du nhập vào Việt Nam từ khi Triệu Đà đem quân xâm lược Âu Lạc năm 179 trước Công nguyên và nhất là từ lúc nhà Hán đặt ách đô hộ ở Giao Chỉ, Cửu Chân năm 111 trước Công nguyên. Đến cuối đời Đông Hán, Tam Quốc năm (220 - 280) việc học hành bằng tiếng (chữ) Hán được đẩy mạnh lên rất nhiều nhờ công sức của thái thú Sỹ Nhiếp (trong thời gian từ năm 187 đến 226) và một số người khác (Lưu Hi, Ngu Phiệu, Đỗ Tuệ Độ...). Sự phổ biến tiếng (chữ) Hán cũng giúp sức đắc lực cho việc truyền bá Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và ngược lại, ba thứ giáo này cũng làm cho tiếng (chữ) Hán được truyền dạy rộng rãi ở xứ Giao Châu. Do có sự gắn bó hết sức mật thiết giữa tiếng (chữ) Hán với Nho giáo, nên ở Việt Nam tiếng (chữ) Hán thường được gọi là “chữ Nho” (bên cạnh các từ “Nho sĩ”, “Nho học”, “nhà Nho”, “ông đồ Nho”, “nho nhã”…). Chữ Nho còn được suy tôn là “chữ của thánh hiền”. Đến thời Tuỳ Đường (cuối thế kỷ 6 - đầu thế kỷ 10) đã có một đội ngũ đông đảo người Việt Nam thông thạo chữ Nho. Sau khi nước ta giành được độc lập, tự chủ (thế kỷ 10), chữ Nhô vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến tận đầu thế kỷ 20.
Trong việc sử dụng chữ Nho ở xứ ta có một đặc điểm hết sức lý thú như sau. Trước thế kỷ thứ 10, tầng lớp quyền quý ở ta viết và nói ngôn ngữ này như một ngoại ngữ, một sinh ngữ (ngày nay ta gọi là “nói tiếng Tàu”). Cái ngoại ngữ, sinh ngữ này không khác gì bản ngữ Hán về các mặt ngữ âm, từ vững, ngữ pháp. Nhưng từ đầu thế kỷ thứ 10 trở đi, trong thời kỳ độc lập, tự chủ, có thể là do những nguyên nhân chính trị - xã hội và cũng do có sự ngăn cách bởi biên giới quốc gia với bản ngữ Hán, nên chữ Nho - tiếng Tàu ở xứ ta tuy về cơ bản vẫn bảo lưu từ vựng và ngữ pháp như ở chính quốc, nhưng về ngữ âm đã có sự thay đổi lớn theo hướng Việt hoá, tức là dân ta đã đọc chữ Nho - tiếng Tàu không theo cách của người bản ngữ Hán, mà theo kiểu ta, cái mà sau này được gọi là “cách đọc Hán Việt”. Và ta cũng không nóitiếng Tàu nữa. Ngôn ngữ này từ đó trở đi, tuy vẫn là một thứ ngoại ngữ, nhưng không còn như là một sinh ngữnữa đối với người Việt. Thế là xuất hiện một hiện tượng rất đặc biệt. Xét từ phía tiếng Hán ở Trung Quốc, thì chữ Nho - tiếng Tàu - cách đọc Hán Việt ở Việt Nam đã trở thành lúc đầu là một biến thể ngữ âm, về sau là một biến thể ngôn ngữvới nhiều sai khác về từ vựng - ngữ nghĩa - ngữ âm (tương tự như các biến thể Mĩ, Canađa, Úc… so với tiếng Anh chính quốc). Mặt khác, xét từ phía người Việt, do văn tự riêng của người Việt - chữ Nôm - phát triển chưa đúng tầm và còn bị kì thị, và cũng do nhiều nguyên nhân xã hội – văn hoá khác nữa, nên cái chữ Nho - tiếng Tàu - cách đọc Hán Việt này, tuy là gốc ngoại, nhưng lại có một địa vị rất trang trọng và một giá trị rất thiêng liêng trong xã hội và trong đời sống văn hoá tinh thần của người Việt, đến mức, về phương diện tâm lý xã hội, hầu như không ai kỳ thị nó là ngoại ngữ và đối xử với nó bằng một tinh thần hiếu học đáng kinh ngạc, ít nhất là cho đến năm 1919, khi các trường Hán học bị xoá bỏ, kì thi Hội cuối cùng kết thúc và các “ông nghè ông cống” bắt đầu bị “nằm co”, theo cách nói của một nhà thơ làng Nho đương thời.
Về mặt chức năng xã hộiđã có một sự phân công rõ ràng. Trong khi tiếng Việt (nôm na) được sử dụng trong sinh hoạthàng ngàytrong gia đình, làng xom, chợ búa, sản xuất nông nghiệp, thủ công và trong sinh hoạt văn hoá tinh thần(hội hè, hát xướng, ca dao, thơ Nôm…) thì chữ Nho, tiếng Tàu được dùng làm văn tự chính thứccủa các vương triều phong kiến Việt Nam (đầu thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 20) như trong các văn bản hành chính nhà nước(chiếu, dụ, sắc, chế, hịch, cáo, biểu, luật, giấy tờ việc quan…), văn bản xã hội(việc làng, việc họ, gia phả, tế lễ, thờ cúng, văn bia…). Nó còn được dùng trong giáo dục(học hành, thi cử với một lối văn riêng gọi là “văn cử nghiệp” hoặc “văn cử tử”, “văn trường ốc”, gồm các thể loại như: kinh nghĩa, văn sách, chiếu, chế, biểu, thơ, phú…) trong sáng tác(thơ phú ngâm vịnh xướng hoạ, văn tế, viết sách…) tạo nên văn học chữ Hán, một bộ phận hợp thành trọng yếu của văn học Việt Nam thời trung đại.
Từ những năm 20 của thế kỷ 20, số người học chữ Nho - tiếng Tàu - cách đọc Hán Việt giảm đi rất nhiều. Và từ những năm 50 trở đi, Trung văn - tiếng Trung - tiếng Hoa - tiếng Hán hiện đại chỉ là một trong những môn ngoại ngữ được dạy ở các trường phổ thông và đại học, dù có thăng trầm theo thời tiết chính trị và kinh tế thị trường.
2/ Tiếng Pháp
Tiếng Pháp, hay như cách gọi chung hơn của dân ta - tiếng Tây, bắt đầu được dạy trong trường học đầu tiên của thực dân Pháp mở ở Nam Kì năm 1861 là Trường đào tạo thông ngôn. Mười năm sau, tiếng Tây là nội dung chính (chữ Nho và chữ quốc ngữ là thứ yếu) trong nội dung học tập ở Trường sư phạm thuộc địa. Đến những năm đầu của thập kỉ 40 của thế kỷ 20, tiếng Tây là chuyển ngữ được dùng để dạy và học các môn học ở tiểu học và trung học (môn học tiếng Việt trở thành môn phụ, giờ Việt văn được xem như một môn ngoại ngữ (!)).
Từ khi Việt nam giành được độc lập năm 1945, tiếng Việt trở thành chuyển ngữ trong hệ thống giáo dục, tiếng Tây - lúc này đã dần dần được gọi theo đúng tên của nó là tiếng Pháp - chỉ còn là một ngoại ngữ, và trong nhà trường thì được dạy như một môn sinh ngữ.
Trong thời kỳ hoàng kim của mình, từ những năm 40 của thế kỷ 20 trở về trước (nửa sau thế kỷ 19), trên thực tế, ở Việt Nam đã tồn tại hai thứ tiếng Tây. Một thứ, xét về mặt ngôn ngữ học xã hội, hành chức như một biến thể của tiếng Pháp ở thuộc địa(hải ngoại) với một diện mạo ngữ âm đã được bản địa hoá theo giọng điệu Việt. Có thể gọi đấy là “tiếng Tây An Nam”. Khác với biến thể ngôn ngữ là thứ chữ Nho - tiếng Tàu - cách đọc Hán Việt đã nói ở phần tiếng Hán ở trên, cái tiếng Tây An Nam này không chỉ được đọc mà còn được nói bình thường trong giao tiếp giữa các viên chức Việt với đồng nghiệp hoặc sếp Tây trong các sở Tây, trong sinh hoạt hàng ngày của nhiều gia đình thuộc tầng lớp trên (người giàu, trí thức, quan lại…), nhất là những người đã vào làng Tây, tức là nhập quốc tịch Pháp. Nhưng, cũng giống như đối với chữ Nho - tiếng Tàu – cách đọc Hán Việt, người nói tiếng Tây An Nam, về phương diện tâm lý xã hội, không có mặc cảm là minh đang nói tiếng nước ngoài. Đấy là một nét đặc biệt trong tâm lý của người Việt thời bấy giờ. Một thứ tiếng Tây khác là tiếng Tây bồi, thực chất là một ngôn ngữ lai tạp (pidgin), được tạo ra trên cơ sở tiếng Pháp, do những người ở tầng lớp dưới (như: loong toong - tuỳ phái, xốp phơ - lái xe, xe tay, bồi phòng, bồi bàn, đầu bếp, ca ve - gái nhảy, nhà thổ - gái điếm, me tây, đội xếp - cảnh binh, lính tẩy, cu li…) nói trong giao dịch với Tây.
Về chức năng xã hộicủa tiếng Pháp ở Việt Nam, có hai thời kỳ hành chức khác nhau. Trong thời thuộc địa(giữa thế kỷ 19 - gần giữ thế kỷ 20), tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức, được dùng trong việc cai trị(ban hành các văn bản hành chính nhà nước, xét xử ở toà án…) giao dịch dân sự (giấy khai sinh, giấy khai tử, giấy giá thú, giấy căn cước, di chúc, bằng khoán điền thổ, văn bằng, kê đơn…, trong nhiều trường hợp có kèm theo tiếng Việt, như những văn bản song ngữ), giáo dục(làm chuyển ngữ trong giảng dạy, học tập, thi cử), sáng tác(viết báo, viết kịch, viết văn, làm thơ, viết sách khảo cứu…) giao tiếp ngôn ngữ(tiếng Tây An Nam, tiếng Tây bồi). Thời độc lập (từ giữa thế kỷ 20 về sau), tiếng Pháp bị mất thế rất nhiều, chỉ còn là một ngoại ngữ bên cạnh các ngoại ngữ khác, dù cho Việt Nam có là một nước “Phơ răng cô phôn” (“nói tiếng Pháp”). Nó cũng được dùng một cách hạn chế cho một số loại xuất bản phẩm (như: bản tin thông tấn xã, báo, sách…) cho hiệp định, giấy tờ ngoại giao…
3/ Tiếng Anh
Ở nước ta, thứ tiếng này không có lịch sử dày dặn như tiếng Hán, tiếng Pháp. Thời Pháp thuộc tiếng Anh chỉ là một ngoại ngữ/ sinh ngữđược học trong nhà trường là chính. Thời độc lập có giai đoạn “lên cơn sốt”. Đó là những năm 60, 70 của thế kỷ 20, khi các nhân viên quân sự và dân sự Mĩ hiện diện đông đảo ở miền Nam Việt Nam thời chiến tranh và từ những năm 90 của thế kỷ 20, khi Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa hội nhập vào kinh tế thị trường của thế giới, tuy “nhà nhà học tiếng Anh, người người học tiếng Anh”, nhưng xét về chức năng xã hội, tiếng Anh cũng chỉ có được địa vị của một sinh ngữđược dạy trong nhà trường như một môn học, hoặc được dùng khá rộng rãi như một phương tiện giao tiếpở khu vực thành thị trong các giao dịch (viết hoặc nói) trực tiếp hoặc qua người phiên dịch trong các lĩnh vực chính trị, quân sự, ngoại giao, làm dự án kinh tế - xã hội, đầu tư, xuất nhập khẩu, buôn bán, du lịch, thể thao, âm nhạc, thông tin đại chúng (báo, phát thanh, truyền hình, internet…).
Dù có phát triển rộng khắp thế nào chăng nữa, cho đến nay, tiếng Anh vẫn chưa thể được dùng để nói bình thường với nhau giữa các công chức trong bộ máy nhà nước, giữa các thành viên trong gia đình giàu có hoặc trí thức - điều mà tiếng Pháp đã từng đạt được ở Việt Nam. Tuy vật, người ta cũng ghi nhận là đã có một “pidgin Việt Nam” (ngôn ngữ lai tạp Anh - Việt) hình thành trên cơ sở tiếng Anh, được người Việt Nam ở miền Nam dùng để giao dịch với các nhân viên dân sự và quân sự Mĩ trong vòng non 20 năm (những năm 60, 70 của thế kỷ 20) (xem: D. Crystal, 1997).
4/ Tiếng Nga
Ngôn ngữ này đã từng có thời huy hoàng ở Việt Nam, trong khoảng 3 thập kỷ, từ những năm 60 đến những năm 80 của thế kỷ 20. Cũng như tiếng Anh, về mặt chức năng xã hội, tiếng Nga cũng mới chỉ có vai trò một ngoại ngữ/ sinh ngữđược dạy trong nhà trường Việt Nam như một môn học và một phương tiện giao tiếp của không phải đa số dân (trực tiếp hoặc qua phiên dịch) trong một số lĩnh vực như; chính trị, quân sự, ngoại giao, viện trợ, xuất nhập khẩu, xây dựng, thể thao, âm nhạc… Ở những “trận địa” mà tiếng Nga đã từng chiếm giữ thì nay người ta thấy có sự hiện diện của tiếng Anh – kẻ thế chân đầy tham vọng và có sức cuốn hút mạnh mẽ.
Một số ngoại ngữ khác không có ảnh hưởng nổi bật trong xã hội Việt Nam nên không được bàn đến ở đây.
III. Đánh giá vị thế của một ngôn ngữ trong tính cách một ngoại ngữ
Để giảm bớt tính chung chung (như đã nói ở phần Mở đầu của bài này) của việc xác định kiểu định lượngđối với vị thế của một ngôn ngữ trong tính cách một ngoại ngữ, chúng tôi xin thử đưa ra một cách đánh giá vừa mang tính định lượng vừa mang tính định tính. Phương diện thứ hai này được thể hiện trong việc xem xét các chức năngmà một ngôn ngữ có thể thực hiện trong một xã hội, đi từ phạm vi rộng nhất đến phạm vi kém rộng hớn. Các chức năng được tập hợp trong một bảng. Mỗi chức năng được cho một số điểm nào đó. Điểm này cũng được tính giảm dần theo phạm vi hành chức xã hội của một ngôn ngữ. Một thứ tiếng có thể đóng nhiều vai trò và vị thế của nó được tính bằng tổng số điểm chức năng mà nó đạt được. Bảng chức năng có điểm tính này được chúng tôi gọi là “ Bảng thang điểm chức năng - giá trị của một ngôn ngữ thứ hai” (ngôn ngữ thứ hai là cách gọi khái quát chỉ ngôn ngữ ngoài tiếng mẹ đẻ của cộng đồng chủ thể, có thể là một ngoại ngữ, cũng có thể là một ngôn ngữ của một cộng đồng khác cùng chung sống trong một quốc gia).
Dưới đây là bảng thang điểm chức năng - giá trị.
| Điểm | Chức năng xã hội |
| 10 | Được sử dụng bình thường hàng ngày (nói và viết) trong chế độ song ngữ (đa ngữ) trong mọi lĩnh vực sinh hoạt xã hội. |
| 9 | Là ngôn ngữ quốc gia chính thức duy nhất của một nhà nước |
| 8 | Là một trong nhữngngôn ngữ quốc gia chính thức của một nhà nước |
| 7 | Được dùng trong văn bản viết vế quản lý hành chính nhà nước đối nộiđối với công dân (giấy khai sinh, giấy kết hôn, chứng minh thư, văn bằng, chứng chỉ, giấy tờ nhà đất, thông báo (cáo thị), nghị định, thông tư, trát, lệnh…) |
| 6 | Được dùng trong hoạt động đối ngoại chính thức(viết và nói) của nhà nước ở cấp quốc gia, không qua phiên dịch, như ngoại giao, kinh tế - xã hội (công hàm, dự án, hợp đồng, báo cáo, hội đàm, hội nghị, trao đổi ý kiến, tham quan khảo sát…) |
| 5 | Được dùng rộng rãi trong một số lĩnh vực sinh hoạt xã hội khi giao tiếp khẩu ngữ(không phải nói tiếng bồi –bidgin) trực tiếp giữa dân thường với người nước ngoài (như: trong công sở, ngân hàng, bưu điện, du lịch, giao thông vận tải, hội thảo du học…) khi giao tiếp bút ngữ(viết) trực tiếp hoặc gián tiếp giữa dân thường với nhau hoặc với người nước ngoài (như: thư từ, thơ phú, bút đàm, viết sách…) |
| 4 | Được dùng trong giáo dục (trong phạm vi nhà trường) làm chuyển ngữ (ngôn ngữ giảng dạy)(cả viết và nói) khi dạy và học các môn học |
| 3 | Được dùng trong một số tình huống giao tiếp, cả viết và nói, giữa những người thuộc một tầng lớp xãhội nào đó (như tầng lớp trên, hoặc giàu có, hoặc có văn hoá cao…) hoặc giữa họ với người nước ngoài |
| 2 | Được dùng trong giáo dục (trong phạm vi nhà trường) như một môn họcngoại ngữ (hoặc ngôn ngữ thứ hai) bắt buộc, có hoặc không có thi cửkhi tốt nghiệp, mãn khoá hoặc tuyển sinh |
| 1 | Được dùng trong giáo dục (trong phạm vi nhà trường) như một môn họcngoại ngữ (hoặc ngôn ngữ thứ hai) tuỳ chọn (không bắt buộc) |
Trong bảng thang điểm trên chúng tôi không tính đến những trường hợp mà chúng tôi gọi là “thiểu năng xã hội”, tức là những biểu hiện chức năng chỉ có tính chất hạn chế, như: 1/ Sử dụng các từ ngữ hoặc câu riêng lẻ dưới dạng viết bằng ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ hai): biển báo, chỉ dẫn trên màn hiển thị (“stop”, “exit”, “no entry”, “WC”, “come in, please”, “push”, “pull”, “volume”. “channel”, “menu”, “option”, “e-mail”, “Erase this telephone number from the list”…; 2/ Sử dụng chêm xen các từ ngữcủa tiếng nước ngoài (ngôn ngữ thứ hai) trong lời nói bằng tiếng mẹ đẻ (ngôn ngữ thứ nhất) (OK, goodbye, bye bye, shopping, hot, top ten, GDP, ODA, single, diva, play off, game show, talkshow…); 3/ Giao dịch khẩu ngữ những câu ngắn bằng tiếng bồi (pidgin), có hoặc không có kết hợp với ra dấu hiệu, điệu bộ kiểu như giữa những người chở xe xích lô, người bán đồ lưu niệm rong, người buôn bán nhỏ với khách du lịch nước ngoài (“Hế lô”, “Gút bai”, “Thánh kiu”, ten tháo dần”, “Oăn iu oăn đô la, tu iu tu đô la”, Iu ôkê, iu xít đao. Iu nô ôkê, iu gâu”, nghĩa là: “một người (đi) một đô la, hai người (đi) hai đô la. Máy đồng ý (thì mày ngồi xuống (xe). Mày không đồng ý (thì) mày cứ việc đi”…).
Dựa theo bảng thang điểm chức năng - giá trị của chúng tôi, ta có thể đánh giá khá cụ thể vị thế của các ngoại ngữ phổ biến ở Việt Nam như sau: a/ Có chức năng xã hội nào được thực hiện thì sẽ được điểm tương ứng với chức năng đó; b/ Vị thế của một ngoại ngữ sẽ được đánh giá bằng tổng số điểm chức năng – giá trị đạt được. Điểm càng cao, vị thế càng cao.
Chữ Nho - tiếng Tàu – cách đọc Hán Việt (đầu thế kỷ 10 - đầu thế kỷ 20) 9+7+6+5+2 Trung văn - tiếng Trung - tiếng Hoa - tiếng Hán Hiện đại (từ đầu thế kỷ 20 đến nay) 2 | Điểm 29 2 |
Tiếng Pháp Thời thuộc địa(ở Nam Kì và Bắc Kì, nửa cuối thế kỷ 19 - những năm 40 của thế kỷ 20) 9+7+6+5+4+3 Thời độc lập(từ sau những năm 40 của thế kỷ 20) 2 |
2 |
Tiếng Anh Thời độc lập(từ sau những năm 40 của thế kỷ 20) + Ở miền Bắc (đến những năm 80) 2 + Ở miền Nam (những năm 60-70) 5+2 Thời mở cửa(trong toàn quốc, từ những năm 80) 5+2 |
7 7 |
Tiếng Nga Thời độc lập(từ sau những năm 40 của thế kỷ 20) + Ở miền Bắc (những năm 50-80) 2 + Ở miền Nam (những năm 70-80) 2 |
2 |
Qua bảng điểm trên ta thấy trong thời kì hoàng kim ở Việt Nam, chữ Nho - tiếng Tàu – cách đọc Hán Việt đạt được một số điểm rất cao là 29 điểm, nhưng còn thua tiếng Pháp thời thuộc địa (34 điểm) vì ngôn ngữ này được dùng làm chuyển ngữ (ngôn ngữ giảng dạy) trong nhà trường và được giới trí thức sử dụng khi giao tiếp (nhất là khi nói chuyện, diễn thuyết…). Còn tiếng Anh, ngay cả khi “cực thịnh” cũng mới chỉ được 7 điểm. Điều này chắc sẽ làm thất vọng nhiều người vốn có ản tưởng về vị thế “năm bờ oăn” (số 1) ở nước ta của cái ngôn ngữ đang được nhiều thế lực muốn suy tôn làm một “ngôn ngữ toàn cầu hàng đầu”, dựa vào cái “sống lượng hoành tráng” người sử dụng nó (vốn chỉ là một phép tính cộng đơn giản dân số các nước có dùng ngôn ngữ này (xem: Bùi Hiền, 2005).
Bây giờ ta hãy xem điểm vị thế của tiếng Anh như một ngoại ngữ ở một số nước châu Á như thế nào. Chúng tôi dựa vào nội dung của cuốn “tìm hiểu ngôn ngữ các nước trên thế giới của Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh (2003) vốn được dịch và biên soạn trên cơ sở một bản gốc tiếng Trung (rất tiếc Nhà xuất bản trên không nêu rõ là của ai, năm nào…) Trong cuốn này có thông tin về tình hình ngôn ngữ ở 49 nước châu Á.
Trong số đó chỉ có 31 nước dùng tiếng Anh. Từ những thông tin có được, vận dụng bảng đánh giá theo thang điểm chức năng - giá trị của chúng tôi, ta xác định được điểm vị thế của tiếng Anh ở một số quốc gia như sau: Ấn Độ - 29 (8+7+5+4+3+2), Malaysia - 29 (8+7+5+4+3+2), Philippin - 29 (8+7+5+4+3+2), Xích Kim - 30 (9+7+5+4+3+2), Xinggapo - 29 (8+7+5+4+3+2), Pakixtan - 29 (8+7+5+4+3+2), Lào - 2, Nhật - 7 (5+2), Thái Lan -14 (7+5+2), v.v…
IV. Kết luận
Như đã thấy ở trên, cách đánh giá vị thế của một ngôn ngữ thứ hai dựa vào điểm (giá trị) chức năng nó có được trong một quốc gia cấp cho ta một bảng tiêu chí cụ thể cả về phương diện định tính lẫn định lượng, giúp ta có một cơ sở chung dễ tính toán, dễ so sánh. Trong điều kiện không thể tính chính xác (tới con số hàng nghìn, hàng trăm) số lượng người sử dụng một ngôn ngữ thứ hai, thì một cách tính như chúng tôi đề nghị, xem ra, là một công cụ làm việc có thể chấp nhận được. Hiển nhiên, đây cũng có khả năng là phương tiện để xác định vị thế của một ngôn ngữ ở phạm vi toàn cầu.
_________
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Hiền (2005) - Để hội nhập đâu phải chỉ cần một tiếng Anh. T/c Ngôn ngữ & Đời sống, số 8 (118).
2. Tìm hiểu ngôn ngữ các nước trên thế giới(2003). Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Vũ Quang Hào (1999) - Từ điển về từ điển. NXB Văn hoá.
4. Crystal D. (1997) - English as a Global Language. Cambridge University Press.
5. Ronowicz E., Yalllop C. (1999) - English: One language, different cultures. Casell, London New York .
Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 4 (126), 2006







