Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói về Điện Biên Phủ
Có một huyền thoại về Navarre. Ở Pháp, người ta thường nói một cách lịch sự rằng kế hoạch Navarre, và nhất là cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ là những việc hoàn toàn ngu xuẩn...
- Kế hoạch Navarre không phải là sự ngu ngốc thuần túy như các chuyên gia và báo chí phương Tây sau đó đã mô tả.
Cũng chớ nên quên sự hứng khởi khi người ta đón nhận nó, ở Pháp cũng như ở Mỹ. Những người ngày nay lên án Navarre là bất lực, cũng là những người đã từng khích lệ ông ta ầm ĩ năm 1953. Hãy thử nhớ lại tình hình lúc đó. Quân đội viễn chinh đã bị đẩy lùi, chúng chỉ còn kiểm soát một phần đất đai Việt Nam bị thu hẹp, dù chúng đang còn gây cho chúng tôi nhiều khó khăn. Kế hoạch Navarre là ý đồ đưa ra đáp sốchiến lược của Pháp, vàcủa cả phương Tây, vì Mỹ đang ngày càng can thiệp trực tiếp vào những quyết định đối phó với tình trạng suy yếu đó. Đấy là nỗ lực cuổi cùng của phương Tây để chuyển - hay đúng hơn là quay trở lại - từ thế phòng ngự sang phản công. Dù cho lúc đó đã quá muộn để thay đổi thế trận, chúng tôi vẫn không xem nhẹ nó. Ngược lại nó đã đặt ra nhiều vấn đề nghiêm trọng, những khó khăn mới đối với chúng tôi. Bên trong vùng châu thổ chẳng hạn,Navarre đã tập trung một lực lượng quan trọng từ trước chưa từng có.
Chớ quên rằng Navarre đã khai trương việc chỉ huy của mình bằng hai thành công: chiến dịch Hirondelle nhảy dù xuống hậu phương của chúng tôiởLạng Sơn và Lộc Bình, và cuộc rút lui đặc biệt thành công ở Nà Sản, khiến chúng tôi bị bất ngờ. Về phần tôi, tôi chưa bao giờ coi thường bất cứ vị Tổng chỉ huy nào. Nhưng trong những tháng đầu chỉ huy của Navarre, ông ta đã chứng tỏ cho tôi biết đây là một đối thủ có tầm cỡ.
Vậy việc gì đã xảy ra? Navarre muốn giam chân phần lớn lực lượng chính quy của chúng tôi ở phía Bắc, kết thúc sự suy thoái của thế trận Pháp, nhằm ngăn chặn mối đe dọaởphía Nam, mà Pháp muốn kiểm soát chặt chẽ. Do đó tôi nhấn mạnh: kế hoạch đó không kém phần gắn bó chặt chẽ và cũng không kém phần sáng tạo. Nhưng nó không giải quyết được mâu thuẫn cơ bản của mọi cuộc chiến tranh xâm lược: nếu quân viễn chinh tập trung lực lượng, đạt được tiềm năng sức mạnh ở những điểm cụ thể, thì nó lại mất đi, theo đúng tỉ lệ, việc kiểm soát địa bàn.
•Mâu thuẫn đó không bao giờ mất đi, trong suốt cuộc chiến tranh của Pháp cũng như sang cuộc của Mỹ.
- Đúng, có một sự dao động giữa hai chiến lược: phân tán hay tập trung lực lượng. Chiến lược đầu tiên tương đương với sự kiểm soát -cốgắng kiểm soát - càng nhiều đất đai có thể, nhưng trong mỗi trường hợp cụ thể, nó lại tạo ra khả năng dễ bị tổn thương. Chiến lược thứ hai cho phép tạo nên sức mạnh, nhưng có nghĩa là mất đi sự kiểm soát những vùng đất rộng lớn. Như vậy, mâu thuẫn đó không bao giờ giải quyết được, vì nó bất khả thi, do tính chất cuộc chiến tranh mà kẻ xâm lược theo đuổi.
• Chiến địch Castor tháng 11-1953, nghĩa là cuộc nhảy dù xuống Điện Biên Phủ; dù sao cũng đã khiến ông bất ngờ...
- Ngày 20-11, chúng tôi đang ở vào ngày thứ hai cuộc hội nghị toàn quốc những người lãnh đạo quân sự,ởĐồng Đậu, tỉnh Thái Nguyên. Chúng tôi được tin cuộc nhảy dù. Chúng tôi lập tức hỏi ý kiến Bộ Chính trị của Đảng. Và đây là những gì chúng tôi đâ kết luận ngay từ ngày 23-11, ba ngày sau hành động của Pháp: “Cuộc nhảy dù không làm thay đổi gì những dự báo chiến lược của chúng ta. Đó là bằng chứng cho thấy kẻ thù luôn bị đẩy vào thế phòng thủ. Tình hình chủ yếu vẫn thuận lợi cho chúng ta”. Chúng tôi nghiên cứu tỉ mỉ tình hình. Bài học vỡ lòng của một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc là phải tiến hành chiến đấu khi nắm chắc phần thắng trong mỗi trận chiến đúng lúc. Đó là trường hợp của Điện Biên Phủ. Chúng tôi đã cho gọi một số đơn vị về, lúc đó đã tiến vào vùng đông - bắc, để tiến hành bao vây cứ điểm. Bản thân tôi cũng lên đây, cụ thể là ngày 5 tháng Giêng năm 1954. Trước khi đi, tôi đến gặp Hồ Chủ tịch một lần nữa. Người nói: “Trước mọi quyết định, hãy thảo luận với Đảng ủy, bàn bạc với các đồng chí Trung Quốc, rồi mới quyết định. Chỉ tấn công khi chú biết chắc sẽ thắng. Chú có toàn quyền hành động”.
•Việc nhắc nhở cụ thể đó rất quan trọng. Ông biết rằng ở phương Tây, và đôi khi ngay ở Trung Quốc, người ta viết rằng các cố vấn Trung Hoa đã tác động đến các quyết định của ông.
- Nói rõ ra, tôi tin vào Chủ tịch, vào Chính phủ và Đảng của nước tôi.
•Một sự kiện được các nhà sử học ghi lại. Ông đã tính đến một cuộc tấn công toàn diện, ồ ạt, để nhanh chóng giành chiến thắng. Và trong tháng Giêng năm 1954, đến phút cuối cùng, ông đã tự hủy bỏ lệnh của mình...
- Chúng tôi đã từng đánh các cứ điểm phòng ngự. Nhưng chúng tôi có thể bao vây một ngày, hay nhiều lắm là vài ngày. Đó là những điểm tựa cô lập, dù có sức mạnh. Ở Điện Biên Phủ, trong thời gian đầu, chúng tôi đã chuẩn bị một cuộc tấn công, tất nhiên là với những đơn vị mà chúng tôi đã có trong tháng 12-1953. Số tiểu đoàn của Pháp còn ít, các công sự chưa phải là không chiếm được. Lúc đó chúng tôi nghĩ rằng cứ điểm có thể bị tràn ngập bằng một đợt tấn công, trong vài ngày và vài đêm. Khi tôi đến mặt trận, tôi thấy mọi người đều phấn khởi: các chỉ huy quân sự Việt Nam, các cố vấn Trung Hoa, đều nhất trí với chiến thuật đó. Ngày 14 tháng Giêng, lệnh truyền đến các đơn vị chuẩn bị cho cuộc tấn công chớp nhoáng, dự tính vào ngày 20, rồi ngày 25. Trong hàng ngũ chúng tôi, tinh thần phấn khởi rất cao. Ngày 25, vài giờ trước giờ G, tôi quyết định lùi lại 24 giờ.
Tôi muốn phân tích mọi yếu tố một lần nữa. Cứ điểm đã được tăng cường đáng kể. Vào đỉnh cao của sức mạnh, nó trở thành một chướng ngại hoàn toàn khác về chất so với những gì chúng tôi biết được trước đó: đó là một thành phố quân sự thực sự, được dựng nên theo những quan niệm tối tân nhất, được trang bị mạnh, do 21 tiểu đoàn phòng ngự, được chọn lựa trong những đơn vị ưu tú của quân viễn chinh. Tôi tự hỏi: có nên rơi vào cái mà ngày càng hiện rõ trước mắt tôi như là một cái bẫy? Thời gian càng đến gần, tôi càng thấy có vẻ phiêu lưu khi đưa các đơn vị lao vào mà không chắc thắng. Một cuộc tấn công chớp nhoáng không thành sẽ là một thảm họa. Chủng tôi sẽ mất rất nhiều người. Chúng tôi sẽ không còn dự trữ nhân lực có ỹ nghĩa trên toàn bộ chiến trường.
•Khi nào thì ông thay đổi kế hoạch?
- Vào phút cuối cùng. Đêm ngày 25 sang ngày 26 tháng Giêng, tôi đưa ra quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời mình. Tôi còn bị lên cơn sốt. Tôi phải buộc lá thuốc quanh đầu! Tôi không ngừng nhắc đi nhắc lại trong óc câu nói của Bác Hồ: “Chỉ tấn công khi chú chắc thắng. Trong trường hợp ngược lại, hãytừ bỏ”, thế nhưng, tôi không “chắc sẽ thắng”. Vào rạng sáng, quyết định của tôi đã rõ: duy trì mệnh lệnh là tội ác.
Tôi yêu cầu được gặp các cố vấn Trung Hoa ngay. Đồng chí Vi Quốc Thanh nhìn thấy ngay là tôi đang tái nhợt. Ông hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi, rồi hỏi về sự chuẩn bị. Tôi thông báo quyết định của mình. Tôi phải nói rằng đồng chí nhanh chóng hiểu ra và biểu thị sự tán thành.
Tiếp đấy tôi gặp Đảng ủy mặt trận. Cuộc thảo luận rất sôi nổi. Một số đồng chí nghĩ rằng ưu thế về quân số và về hỏa lực của chúng tôi là đủ để chiến thăng.Một số thì bị các lý lẽ của tôi làmlung lay. Tôi thuyết phục từng người. Tôi muốn thuyết phục chứ không muốn áp đặt. Cuôi cùng, Đảng ủy châp thuận lý lẽ của tôi. Quyết định là thay thế khẩu lệnh “đánh nhanh thắng nhanh”bằng khẩu lệnh mới “đánh chắctiến chắc”.
•Quyết định đó cóđượcbộ đội dễ dàng chấp nhận không?
- Hãy đặt mình vào địa vị bộ binh đangởtuyến đầu, đangphấn khởi chờđợihiệu lệnh xung phong. Rõ ràng, ngay lúc đó, họ cảm thấy thất vọng. Chúng tôi phải giải thích đi giải thích lại. Nhưng cuối cùng, tôi nghĩ rằng chúng tôi đã có quyết định đúng. Mười năm sau, kỷ niệm Điện Biên Phủ, cùng với những cấp dưới cũ, chúng tôi đã họp nhau lại. Nhiều người nói với tôi rằng, từ trong thâm tâm, họ ngầm mong muốn sự dời ngày đó lại.
•Như vậy là lùi lại, chứ không phải tù bỏ. Ông vẫn giữ chủtrương chiến lược chung: chiếm Điện Biên Phủ.
- Từ đây, phải làm như thế nào? Trước hết, tăng cường lực lượng của chúng tôi. Cuối tháng2, chúng tôi lệnh cho Đại đoàn308 ngừng tiến công ở Thượng Lào, nhằm hỗ trợ cho các bạnPathet Lào, và quay lại Điện BiênPhủ. Rồi chúng tôi đưa pháo đến càng gần vị trí của Pháp hết mức. Như các nhà sử học đã biết, bộ tham mưu Pháp đinh ninh rằng chúng tôi không thể đưa pháo, đặc biệt là các khẩu 105 ly, lênđến đỉnh núi, rồi xuống phíasườn đối diện với họ. Khi pháocủa chúng tôi nã xuống đầu họvào tháng 3, họ bị bất ngờ! Cuối cùng, chúng tôi đã nghĩ ra cách đào một hệ thống đường hào,đưa các chiến binh của chúng tôi đến sát quân địch. Chiều dài của giao thông hào lên đên 100km! Như vậy, mỗi đợt xung phong rút ngắn lại, thương vong về người của chúng tôi được hạn chế tối đa. Như vậy là, như tôi đã viết, chúngtôi đã tạo nên một cứ điểm thực sự bao quanh cứ điểm.
•Trong suốt cuộc chiến đó,mối quan tâm chủ yếu của ông là gì?
- Vấn đề chủ chốt của chúngtôi là hậu cần. Trước kia, chỉ là đưa lương thực, vũ khí và đạn dược đi vài chục cây số hay tìm ở những nơi cất giấu tại chỗ. Điện Biên Phủ cũng đặt ra vấn đề đó nhưng khác về chất, mà không một quân đội quy ước nào có thể giải đáp: Làm thế nào để đưa hàng chục nghìn tấn vũ khí, đạn dược, lương thực đến một nơi hẻo lánh, cách xa 500 hay 600km - mà đi trong rừng - từ những căn cứ gần nhất, và kéo trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng? Có lẽ cho đến lúc đó, chưa bao giờ ý nghĩa của “chiến tranh nhân dân” lại được đánh giá cao như thế. Từ khắp nơi, đã có những người tình nguyện để giải quyết vấn đề hậu cần lớn lao đó. Từ khắp nơi, vùng tự do cho đến cả vùng tạm chiếm, đã có hàng chục nghìn thanh niênbí mật rời khỏi làng để tham giachiến tranh, dưới mọi hình thức. Chúng tôi sử dụng mọi phương tiện vận tải khác nhau: tất nhiên, là xe tải, nhưng cả những chiếc xe đạp, nhất là ở gần nơi có chiến sự.
•Có phải là về sau ông đãtuyên bố rằng, những chiếc xeđạp là “xe taxi trên chiến trường sông Marne” của các ông.
- Đúng, với một chiều kích nhân dân rõ rệt hơn. Hãy tưởng tượng có đến 80.000 người tình nguyện đã tham gia trong hàng tuần lễ, dốc hết sức lực, không ngừng đi đi về về, chuyên chở tới350kg. Đấy là nhờ việc huy độngnhân dân, mà chúng tôi đã giành thắng lợi trong chiến tranh hậu cần, mà chúng tôi đã chiến thắng ở Điện Biên Phủ.
•Bản thân ông, ông sống ở đâu? Ông đã đặt sở chỉ huy nhưthế nào trong suốt trận đánh.
- Tôi trực tiếp tham gia trận chiến Điện Biên Phủ, giống như mọi người khác trong kháng chiến chống Pháp. Các đồng chí công binh đã dựng cho tôi mỗi lần một cái lán bằng tranh, lầnnào cũng theo một kiểu. Đến nỗimỗi lần, tôi đều có cảm giác như đang ở nhà mình. Khi đánh Điện Biên Phủ tôi ở Mường Phăng, cách lòng chảo vài cây số về phía đông. Ồ, bàn ghế của tôi rất đơngiản! Một cái bàn, tôi trải các tấmbản đồ tham mưu. Trên tường,tôi cặp hai tờ giấy lớn trên đótôi vẽ những đồ thị: việc chuyên chở hàng ngày lương thực và đạn dược. Tất cả chỉ có thế. Địa điểm được chọn rất tốt. Tôi không phải đi xa để sang bên kia sườn đồi, đến một điểm quan sát lý tưởng: đó là nhìn thấy toàn trận địa. Như vậy tôi dễ đàng đôi chiếu thường xuyên các kế hoạch với diễn biến trên thực địa.
•Cơquan tình báo của ông hoạt động có tốt không? Chẳnghạn ông có biết kế hoạch can thiệp trực tiếp của Mỹ, được biết dưới tên gọi Chiến dịch Con Ó không?
- Có, chúng tôi biết điều đó. Giống nhưmọi lần, chúng tôi luôn nghiên cứu mọi khả năng. Nhưng chúng tôi đưa ra sự đánh giá rằng can thiệp của Mỹ có thể gây cho chúng tôi nhiều khó khăn, chứ không cứu được quân viễn chinh. Vả lại, kế hoạch đó về mặt vật chất rất khó thực hiện. Lực lượng của hai bên đan xen vào nhau. Một cuộc oanh tạc ồ ạt có thể đẩy binh lính Pháp vào nguy cơ. Nhưng không phải khía cạnh kinh khủng đó đã làm chúng tôi lo ngại. Chúng tôi hoàn toàn biết rõ các cố vấn Mỹ đang ngày càng nhiều, ngày càng có ảnh hưởng, đã có mặt trong hàng ngũ quân viễn chinh, về mặt đó, có một cuộc chạy đua với thờigian... Chúng tôi có đủ thời gianđánh đòn quyết định cho quânviễn chinh thất bại trước khi sựcan thiệp của Mỹ trở nên trực tiếp hơn không?
•Tôi đọc được, dưới ngòi bút của các nhà sử học Việt Nam,rằng Điện Biên Phủ vừa là thất bại cuối cùng của chủ nghĩa thực dân Pháp vừa là đòn nặng đầu tiên đối với đế quốc Mỹ. Ông cóđồng ý với phân tích đó không?
- Có.
•Cuối cùng, ngày 7-5-1954,trước ngày khai mạc cuộc thươngthuyết ở Genève về vấn đề ĐôngDương, các chiến binh của ôngđã chiếm được thành lũy cuối cùng Điện Biên Phủ. Tướng de Castries bị bắt làm tù binh, cùng với hàng nghìn người sống sót ởcứ điểm. Ôngcó cảmgiác rằng,nếu không có Điện Biên Phủ, chiến tranh có thể sẽ kết thúc khác hơn?
- Không, không hề có. Có haykhông có Điện Biên Phủ, quânviễn chinh cũng sẽ thất bại. Có thể là hơi muộn hơn. Có thể là trong những điều kiện khác. Cóthể là ở vùng khác của Việt Nam, xa hơn về phía nam chẳng hạn. Nhưng nó đã bị đánh bại.
•Cuộc thương thuyết ởGenève bắt đầu bằng một cuộcđối thoại giữanhữngngười điếc, ôngBidault và Phạm Văn Đồng. May thay Bidault, mà tên tuổi gắnliền với một thứ cực đoan, đã cốgắng lôi Hoa Kỳ vào một cuộc can thiệp ồ ạt trực tiếp, một tháng sau Điện Biên Phủ, đã được thay thế bằng Mendès France. Chính phủ Pháp cuối cùng, đành phải chấp nhận thương thuyết, rồi ký Hiệp định, kết thúc 8 năm chiến tranh. Không còn là bí mật đối với bất cứ ai, rằng hiệp định ký ở Genève không làm các ông hài lòng, đối với các ông như là một sự hy sinh. Bản đồ chiến sự có thể cho phép các ông có những hy vọng lớn hơn...
- Tôi còn nhớtấmbản đồ màchúng tôi đã lập ở bộ tham mưu. Chúng tôi tô màu đỏ (tất nhiên!) những vùng giải phóng và màu xanh những vùng do quân viễn chinh chiếm đóng. Phần đỏ chiếmphần lớn bản đồ Việt Nam, kểcả Lào và Campuchia. Chúng tôi có thể, chúng tôi đáng phải giành thắng lợi lớn hơn ở Genève. Phạm Văn Đồng, nhân danh chính phủ chúng tôi, đã đưa ra đề nghị chia cắt ở vĩ tuyến 13 và một thời hạn gần hơn về tuyển cử. Nhưng lúc đó, người Trung Quốc không giữ lời... Họ nói với chúng tôi: “Phải kết thúc chiến tranh, phải làm tất cả để duy trìhy vọng về những cuộc thương thuyết quốc tế”, về sau, rất lâu về sau, chúng tôi có trao đổi với người Trung Quốc về quan niệm năm 1954. Bản thân ông Mao cũng thừa nhận rằng họ đã sai lầm khi khuyên cho chúng tôinhư vậy.
•Tôi muôn biết đánh giá củaông với việc ký Hiệp định Genève như thế nào và về khả năng nhìn thấy phương Tây tôn trọng các điều khoản. Tôi muốn nhấn mạnh đến cảm nghĩ của ông lúc đó chứ không phải bây giờ, vì từ đó đến nav, người ta đã học hỏi được nhiều điều rồi.
-Việc ký kết hiệp định cóđược đón chào một cách phấn khởi không? Nói có thì quả là quá đáng. Trong nhân dân, trong hàng ngũ Đảng, có một tình cảm gắn bó với thống nhất đất nước mà một số điều khoản của hiệp định đã tạo nên một nỗi đau thật sự. Nhìn thấy Nam bộ thân yêu và một phần Trung bộ nằm trong tay đế quốc khiến chúng tôi rất đau lòng. Tuy nhiên, mộtsốđồng chí nghĩ rằng việc chia cắt chỉ kéo dài hai năm và bám lấy ý nghĩđó. Chúng tôi có thật sự tin vàođường lối của Đảng trước tình hình đó không? Thật vậy, chúng tôi đã làm hết sức để hiệp định được tôn trọng. Nhưng chúng tôi không bao giờ nuôi ảo tưởng quá mức. Chúng tôi biết cuộc đấu tranh còn tiếp tục. Nhưng dưới hình thức nào? Chính trị ư?Chính trị - quân sự ư? Luôn luônphải cần một thời gian để tìm ra những hình thức đấu tranh thích hợp trong những điều kiện mói. Một điều chắc chắn là: sự chỉ đạo của Đảng hoàn toàn hiểu rằng giành thống nhất phải qua đấu tranh, chứ không phải là sự tin tưởng mù quáng vào đối phương, mà bản chất của chúng là không thay đổi. Vì vậy mà chúng tôi đã nhấn mạnh, cuộc đấu tranh nhằm thi hành các Hiệp định Genève là một cuộc đấu tranhcách mạng.§
(Hết phần thứ 5 về Kháng chiến chống Pháp, tr. 90-101)








