Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 15/01/2007 15:24 (GMT+7)

Đặc sắc truyện ngụ ngôn Liễu Đôi

2.Văn học dân gian Liễu Đôi bao gồm đủ mọi thể loại. Dưới nhiều góc độ khác nhau, có người đề cao các truyện thần thoại, truyền thuyết; có người đề cao tục ngữ, ca dao, dân ca; song theo chủ quan của chúng tôi, mảng truyện ngụ ngôn mới là mảng đặc sắc nhất, góp phần tạo nên nét riêng độc đáo của văn học dân gian Liễu Đôi.

Thế giới động vật ở đồng chiêm trũng Liễu Đôi dường như không sót một loài nào và cũng không lẫn với những vùng khác được. Cá, cua, kiến, chuột, ếch, tôm, rắn, đỉa, ốc, nhện, chim... trên trời, dưới nước đủ cả. Mỗi loài có từ hàng chục đến hàng trăm loại, mỗi loại lại có đặc điểm riêng. Thế giới loài vật ấy đi vào truyện không phải chỉ bằng trí tưởng tượng của người kể, để rồi nêu lên một bài học luân lí nào đó thông thường, mà chủ yếu xuất phát từ nhận thức về đời sống thường nhật muôn màu muôn vẻ của con người. Cho nên, trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ, đọc truyện ngụ ngôn Liễu Đôi, người ta không có nhiều cảm giác "đây là bịa", bởi nó đầy ắp các chi tiết đời sống thực, gắn với một số sự kiện lịch sử của thời đại.

Qua thế giới loài vật trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi, ta thấy xã hội phong kiến có sự phân hóa giai cấp sâu sắc, quyết liệt; thấy bản chất bóc lột, gian xảo, tàn bạo, phi nhân tính của giai cấp phong kiến thống trị; thấy những nỗi khốn cùng của người nông dân bị áp bức, bóc lột và những phẩm chất phi thường của họ chống lại cái xấu, cái ác; thấy một xã hội ngột ngạt, bức bối, thối nát không có lí do gì để tiếp tục tồn tại.

Tiêu biểu cho vẻ đẹp "chân, thiện, mĩ"là những nhân vật thuộc tầng lớp "dưới"của xã hội lúc bấy giờ. Đó là những người khổ sở không ai bằng, bị áp bức, bóc lột đến cùng cực, bị hành hạ cả về thể xác lẫn tinh thần, bị đẩy đến đường cùng. Nhưng càng trong đau khổ, những phẩm chất tuyệt vời của họ càng được bộc lộ rõ ràng hơn bao giờ hết. Mô típ thường gặp với loại nhân vật này là đau khổ trăm đường - tốt bụng - thông minh - đoàn kết - chiến đấu và chiến thắng. Cảnh Kiến chạy lụttrong câu chuyện cùng tên năm nào mà chẳng diễn ra nơi đồng chiêm trũng này: "Họ hàng nhà kiến như ri, Khuân gạo vỡ tổ thôi thì ngược xuôi. Gạo, cám, mật, mỡ lôi thôi, Ngổn ngang bừa bãi kêu trời chết cha. Kiến già lụ khụ lôi tha, Kiến trẻ gánh nặng đến đà oằn xương. Kiến cánh lôi mật, lôi đường, Kiến đỏ rụt cổ gánh giường, gánh niêu. Kiến vàng hết vẻ mĩ miều, Vơ đùm áo đụp che vải điều làm sang. Kiến con tha cám đầy đàng, Kiến mẹ lăn lóc lộn quàng lộn xiên". Có thứ gì đem được theo đều bị "ông lớn"Rết dùng thủ đoạn quỷ quyệt cướp hết, cướp xong thì Rết tàn sát họ hàng nhà kiến không ghê tay: "Kiến chúa bị Rết trói gô, Rết lấy chân vồ, nên kiến tan thây... Bao nhiêu xác chết đầy thung, Lưỡi gươm khắc nghiệt một vùng máu oan. Khăn tang nhà kiến trắng đàng, Mả mới lan tràn đường nọ, đống kia". Nhưng quy luật có áp bức thì có đấu tranh. Họ hàng nhà kiến đã bị đẩy đến đường cùng, chỉ còn một cách phải mưu trí, dũng cảm, đoàn kết để chiến đấu, bất chấp sự hi sinh: "Trăm họ nhà kiến rùng rùng, Bâu vào người Rết để cùng nghiến răng. Rết co, Rết quãy, Rết quăng, Họ hàng nhà kiến hàm răng nghiến đều".Cuối cùng, kẻ thống trị - cái ác đã phải đền tội. Chúng ta cũng gặp mô típ trên trong nhiều truyện khác (Võ Tầm Sét, Nhện Tơ phất ngọn cờ đào, Đĩ Cua hiếu nghĩa, Chèo Bèo đánh Quạ, Cóc cứu nạn, Chuột Chù bị nạn, Tôm mừng thọ vương công Trắm v.v...).

Hầu hết nhân vật lớp "dưới"trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi đều có lí tưởng sống cao đẹp, trọng nghĩa, thương người, đặc biệt là có tinh thần thượng võ hiếm th ấy. Những nhân vật này ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của những đô vật anh hào đất Liễu Đôi. Truyện Chèo Bẻo đánh Quạkể lại rằng: trong đau đớn và căm uất do bị Quạ giết chết cả vợ và đàn con, Chèo Bẻo đã tìm đến với những người cùng cảnh ngộ như Sáo Sậu, Vàng Anh, Mòng Mòng, Chìa Vôi, Bạc Má, Chôm Chôm, Bìm Bìm, Thài Lài, Vẹt Gọng Bừa, Chào Mào, Chim Ri, Dẻ Quạt v.v... để cùng họ đứng dậy cầm gươm đao chiến đấu chống kẻ thù chung: "Tất cả nước mắt đầm đầm, Run run đứng dậy mà cầm gươm đao. Thù thằng Quạ độc chất cao, Oan này chỉ quyết phải lao giáo này! Cả đàn, cả lũ, cả bầy, Gặp thằng Quạ độc đánh ngay giữa vườn". Trong truyện "Võ Tầm Sét", "chàng"cá rô Tầm Sét không thể ngồi yên nhìn cảnh đồng loại bị Rái Cá lần lượt xé xác, phanh thây, đã ngày đêm luyện tập võ nghệ "Tập nhảy, tập vọt lẹ làng, Bổ quáng bổ quàng vọt tới bờ tre", gác tình riêng, quyết hi sinh thân mình tiêu diệt kẻ thù, cứu đồng loại: "Bất thần quay lại lấy đà, Tầm Sét lao vọt lướt qua răng hàm, Lao vào giữa họng thằng phàm, Lách ngang lách dọc cốt làm nó đau".

Những nhân vật "nữ"nông dân, trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi thường thông minh, đẹp nết, đẹp người và cũng thượng võ chẳng kém gì "nam giới". Chuyện về họ bao giờ cũng cảm động, tạo được giá trị thẩm mĩ cao. Đĩ Cua trong truyện Đĩ Cua hiếu nghĩađi tìm thuốc chữa bệnh cho mẹ già: "Gió mưa lặn lội quản gì, Đĩ Cua vừa khóc vừa đi từng ngày". Trên đường đi "nàng"gặp bao nỗi gian nan: khi thì sa vào tay Rốc Nghêu, suýt nữa bị làm nhục; khi mắc mẹo bùa mê của mụ ếch, suýt nữa thành mồi ngon cho ả. Nhờ có võ nghệ cao cường và tấm lòng nhân nghĩa cao cả, Đĩ Cua đã vượt qua được mọi thử thách hiểm nghèo, đem được thuốc thần về. Nào ngờ, về đến nhà thì mẹ già đã chết bởi thuốc độc của quận công Cua Đá. Trước cảnh bất nhân của Cua Đá, Cua Gạch đã đứng lên chống lại Cua Đá để cứu Đĩ Cua. Từ đó, Cua Gạch và Đĩ Cua gắn bó với nhau thành vợ, thành chồng. Một lần, vợ chồng Cua Gạch và Đĩ Cua đem quân sang vây thành Cua Đá để hỏi tội. Với bản chất xảo quyệt, ác hiểm, Cua Đá mời vợ chồng Cua Gạch và Đĩ Cua vào thành bàn chuyện gác bỏ binh đao, chia đôi sơn hà. Trong bữa tiệc, Cua Đá bí mật bỏ thuốc độc vào rượu. Cua Gạch và Đĩ Cua đều bị trúng đôc. Nhớ lọ thuốc thần chưa dùng đến, Đĩ Cua cứu được "chồng", còn mình thì chấp nhận sự hi sinh. Cua Gạch sống lại, trị tội Cua Đá, thu hồi giang sơn về một mối. Cái Niễng trong Chuyện cái Niễng làm thuênghèo đói, quanh năm không có lấy một đồng xu dính túi, nhưng sống trong sạch, thuỷ chung, khí tiết. "Nàng"chẳng màng những "dãy dọc, dãy ngang", "giường hoa chiếu lịch"của Cà Cuống dê già: "Dẫu no đói, Niễng chàng, Niễng thiếp, Phận nhà tôi trong ấm ngoài êm". Hay "chị"ả Cò trong truyện Võ chị ả Còcũng vậy. "Chị"ả Cò không những võ nghệ cao cường, mà còn đích thực là gái chính chuyên: "Động vào ta, đâu phải chuyện bỡn bờ? Thấy trăng hiền mà gió lại tơ mơ, Nhìn thanh kiếm ta đà tuốt ngược".Xin đừng trách những người phụ nữ chỉ quen tối mày tối mặt trên đồng ruộng và còn thiên chức làm vợ, làm mẹ nữa. Giặc giã và xã hội phong kiến với bao nhiêu thứ nhiễu nhương đã buộc họ cực chẳng đã phải cầm gươm, cầm giáo đó thôi.

 

Đạo lí "Thương người như thể thương thân", "Lá lành đùm lá rách", "Tối lửa tắt đèn có nhau"là lẽ sống, là cách ứng xử thường thấy đối với những người lớp "dưới"trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi. Đó là nét văn hóa thật đẹp. Cảnh mừng vợ Chèo Bẻo ở cữ: "Vợ chồng nhà Ri đến chơi, Có một thưng gạo vơi vơi đặt vào. Bà nội của cái Chào Mào, Lần túi lấy quế, lần bao lấy xèng. Cái Ca nhai trầu vỏ ngoèn ngoèn, Mừng Bẻo ở cữ, người chen trong ngoài"(Chèo Bẻo đánh Quạ). Hay sự chia sẻ của bà con lối xóm trước sự hi sinh của cá rô Tầm Sét cho đồng loại: "Săn Sắt phất lá cờ vàng, Trăm loài cùng đến đám tang nhà Tầm, Mẹ Tầm mái tóc hoa râm, Khôn ngăn giọt lệ, khó cầm lòng đau. Bà con chạy đến trước sau, Gọi hồn Tầm Sét, đỡ mái đầu mẹ Sét hoa râm". (Võ Tầm Sét).

Trái ngược với những nhân vật thuộc tầng lớp "dưới", những nhân vật thuộc tầng lớp "trên"trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi mang bộ mặt của kẻ áp bức, bóc lột, mưu mô xảo quyệt, tàn nhẫn tới mức phi nhân tính. Đó là những kẻ giả nhân giả nghĩa, mang bộ mặt "người"nhưng chỉ biết làm một việc là ăn thịt đồng loại như Quạ Khoang (Chèo Bẻo đánh Quạ),Rái Cá (Võ Tầm Sét),Rết (Kiến chạy lụt), Tò Vò (Nhện Tơ phất ngọn cờ đào).v.v...

Đó là những kẻ bề ngoài có vẻ rất đạo mạo, quyền quý, cao sang, nhưng bản chất bên trong thì gian manh, lừa gạt, đê tiện, bỉ ổi, dâm ô như Cua Đá (Đĩ Cua hiếu nghĩa), Quan Quạ (Diệu Trai thục nữ), Quan Cống (Chuột Chù bị nạn)v.v... Các ông "quan"trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi nếu không tàn bạo, dã man, trực tiếp hoặc gián tiếp giết đồng loại, thì cũng là kẻ tham ăn, tục uống, không mấy ai đáng được gọi là cha mẹ dân. Hầu như vị nào cũng đòi ăn của đút và hám gái. Đây là vẻ bề ngoài của "quan"Tò Vò: "Một chiều qua một quãng đường, Gặp người óng chuốt ra phường tài hoa. Mặt mày rạng rỡ thật là, Lưng thắt, áo tựa sao sa nạm vàng".Vậy mà, chính con "người"này lại lừa gạt để hãm hại mẹ con Nhện Kềnh: "Nàng cho ta hút máu đào, Rồi ta đắp điếm cho cao mả cồn... Cắm vòi độc xoáy vào thân, Nhện Kềnh khi ấy bần thần ruột gan". Còn đây, trước lời van xin của Chuột Chù vô tội, "quan"Chuột Cống đã thét lên: "Mày mà nói nữa chém đầu phanh thây. Hôi như cú rích thế này, Vào chầu cũng chẳng lót tay một hào. Quân bay tống khứ cho tao, Để nó đứng đó làm tao nôn mồm... Lệnh truyền thì phải chém luôn, Xương tan thịt nát máu tuôn rụng rời" (Chuột Chù bị nạn).

Giữa hai tầng lớp "dưới""trên", truyện ngụ ngôn Liễu Đôi còn đề cập khá nhiều đến một loại nhân vật tạm gọi là tầng lớp "giữa"trong xã hội. Họ là kẻ sợ đấu tranh, sợ đổ máu như Bồ Cu; ích kỉ, chỉ lo thu vén làm giàu như Chim Ngói; hèn nhát, khiếp nhược như anh Vạc, lẩn tránh sự đời như Lềnh Đềnh (Chèo Bẻo đánh Quạ), trai lơ dơ dáng như Cò Ca (Diệu Trai thục nữ), bảo thủ, gàn dở như thầy đồ ếch (Thầy đồ ếch)v.v... Những nhân vật này làm cho truyện ngụ ngôn Liễu Đôi thật hơn, không đi theo lối mòn vốn dễ thấy trong truyện ngụ ngôn nói chung.

3.Yếu tố lịch sử, văn hóa, xã hội còn in đậm trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi. Truyện Nhện Tơ phất ngọn cờ đàophảng phất như hình bóng một cuộc khởi nghĩa của nông dân dưới thời phong kiến. Truyện Đĩ Cua hiếu nghĩakhiến người ta nhớ đến cuộc đấu tranh gay gắt giữa một bên là những cuộc khởi nghĩa của nông dân và một bên là các tập đoàn phong kiến thời Trịnh - Nguyễn. Đặc biệt, đời sống, sinh hoạt của các giai cấp trong xã hội, phong tục, tập quán của người nông dân ở thôn quê được miêu tả khá chân thực. Nếu đời sống sinh hoạt của những kẻ "mũ cao áo dài"lấy ki cóp, thủ đoạn để làm giàu, hãm hại người thành thói quen thường nhật, sẵn sàng hiến vợ cho quan trên để thăng tiến... thì đời sống, sinh hoạt của những người nông dân lại biết bao oan khiên, nhưng ấm áp tình làng nghĩa xóm. Những phong tục, tập quán, từ việc dạm hỏi, cưới xin đến việc ma chay, đình đám, mừng thọ... còn ghi lại trong nhiều truyện. Rất lạ là trong truyện Cua Càng cưới vợ, những chàng trai, cô gái thôn quê tuy nghèo mà lạc quan, được tự do trong việc tìm vợ, tìm chồng. Đây là lời Cua Càng thưa với cha mẹ: "Cua Càng rằng: để con hay, Ra chợ một ngày tìm được thì thôi”. Chúng ta từng xem tranh Đông Hồ Đám cưới Chuộtvới cảnh đút lót Mèo để họ hàng nhà Chuột được đi đón dâu. Nhưng truyện thơ Đám cưới Chuộtmiêu tả chi tiết hơn nhiều: đi đón dâu, đút lót Mèo già, đón dâu về, không khí tưng bừng ở cả hai họ, vợ Chuột ở cữ... Đây là cảnh ở nhà Chuột Gái (cô dâu)không khí náo nức ngay từ sáng sớm: “ Canh ba trăng lả, gió mời, ở nhà Gái Chuột người người vào ra. Chuột Nhắt thì cầm dao pha, Chuột Chí nhấp nhỏm lăm la dao bầu. Thắp đèn mổ thịt giữa cầu, Thớt băm lốc cốc hoả dàu sáng loa. Chuột Già bê thúng cau ra, Têm trầu tiện chũm bỏ ra cơi mời. Chuột Con bê cỗ, gập người, Chuột Lớn tất tả đồ xôi đơm chè. Bà Chuột quần đũi áo the, Ông Chuột ngất ngưởng dốc be rượu Tàu”.

4.Hầu hết truyện ngụ ngôn Liễu Đôi đều được kể bằng thơ lục bát, truyện dài nhất đến 500 câu, truyện nào cũng có cốt truyện. Những truyện dài (Chèo Bẻo đánh Quạ, Đĩ Cua hiếu nghĩa, Kiến chạy lụt, Cái Đỉa lừa thầy phản bạn, Bà Mụ Cóc...)thường có kết cấu khá phức tạp, có tầng, lớp và rất giàu kịch tính, khiến cho câu chuyện trở nên linh hoạt, hấp dẫn và cuốn hút người đọc, người nghe.


Đa số các truyện mà các sự kiện được kể lại theo trình tự thời gian, nhưng cũng có những truyện trật tự ấy bị đảo lộn để nhấn mạnh chủ đề của truyện. Cách xây dựng hình tượng nhân vật ở đây chú trọng cả hình dáng bề ngoài, ngôn ngữ, cử chỉ, hành động và tâm lí nữa. Nhân vật trong truyên ngụ ngôn Liễu Đôi có tính cách hẳn hoi, có cả quá trình diễn biến chứ không phải đơn thuần là biểu hiện cho một ý tưởng nào đó. Bề ngoài này của Rốc Nghêu đã nói lên bản chất một kẻ trai lơ dơ dáng, tâm địa mờ ám hại người: “ Thân hình cao lớn lêu đêu, Ăn nói hỗm hãm bao nhiêu răng chìa. Đen thời đen gớm đen ghê, Phởn phơ bụng mỡ máy mê mắt nhìn(Đĩ Cua hiếunghĩa). Giọng lưỡi của Tò Vò chỉ nghe thôicũng biết ngay đó là một kẻ ba hoa, khoáclác, lừa gạt Nhện Kềnh đang trong hoàn cảnhcon bồng con mang, “ vượt cạn” một mình:Nghe nàng trôi dạt sông hồ, Nuôi con mộtphận ai lo cho đành. Động lòng căm kẻ hôi tanh, Giá mà ta biết ta giành lấy gươm”. Và không thể không chia sẻ tâm trạng đau đớn quặn thắt của Chèo Bẻo khi bị Quạ Khoang giết chết cả vợ lẫn con: “ Oan gia lại kéo oan gia, Nàng ôi bỗng chốc cửa nhà vắng tanh. Ai cùng khó nhọc với anh? Bây giờ gió mát trăng thanh một mình(Chèo Bẻo đánh Quạ).

Các tác giả dân gian triệt để sử dụng thủ pháp tương phản để khắc họa tính cách nhân vật, đặt các nhân vật vào các tình huống cụ thể, các mối quan hệ với nhau để tính cách bộc lộ rõ hơn. Thủ pháp này đưa đến cho truyện ngụ ngôn Liễu Đôi nhiều tiếng cười, nhưng chủ yếu là cười ra nước mắt.

5.Truyện ngụ ngôn Liễu Đôi không hoàn toàn là tưởng tượng vu vơ mà nó có cơ sở sâu sắc từ trong đời sống xã hội phong kiến trước đây. Những quan niệm về triết lí, đạo đức như “ ở hiền gặp lành”, “ nhân nào quả ấy”, “ tham thì thâm”... ta gặp nhiều trong các truyện. Tuy nhiên, những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống mới thực sự là phần hấp dẫn trong truyện ngụ ngôn Liễu Đôi. Không có bất cứ một lời quy châm nào ở cuối các truyện, nên người nghe, người đọc phải tự mình tìm lấy các bài học đó. Những bài học đó là: Chỉ có đoàn kết mới làm nên sức mạnh chiến thắng; chỉ có những người bị áp bức, bóc lột, nghèo khổ mới thực lòng yêu thương, chia sẻ, đồng cảm với đồng loại; không được bao giờ lơ là, mất cảnh giác với kẻ thù; chỉ có ý chí và hành động xả thân vì nghĩa lớn, vì mọi người mới được mãi mãi tôn vinh v.v...

Nguồn: hoidantochoc.org.vn

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.