Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 08/06/2007 00:19 (GMT+7)

Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở nước ta

Theo tài liệu ĐKNT biên soạn, thì đây là trường học đầu tiên được lập ở Việt Nam : “ Nước Nhật Bản chỉ có 43 huyện mà có đến 26.824 trường tiểu học. Nước ta hơn 30 tỉnh, hơn 500 huyện mà chưa nghe ai nói tới mở trường. Than ôi! Chẳng phải làđáng giận lắm sao?”. Thực ra nước ta tuy chưa có trường học (theo nghĩa có trường sở, có bộ máy quản lí và giảng dạy, đào tạo học sinh theo một chương trình nhất định), nhưng cũng từng có không ít các cơ sở giảng dạy văn hóa Nho giáo như lớp học tại gia của thầy đồ, chưa kể Quốc Tử Giám Văn Miếu, được gọi là “trường đại học đầu tiên” – song tất cả chỉ nhằm đào tạo người làm quan. Ngoài ra, từ cuối thế kỉ XIX, Tổng Trú sứ Trung Bắc lưỡng kì Paul Bert (nguyên Tổng trưởng Bộ quốc gia giáo dục Pháp) bắt đầu mở mốt số trường tiểu học Pháp-Việt nhằm đào tạo những người làm việc cho chính quyền Pháp. Nhưng một trường tiểu học kiểu ĐKNT thì đúng là nước ta chưa từng có!

Đông kinh nghĩa thục do một nhóm sĩ phu Bắc Hà đồng sáng lập: Lương Văn Can (hiệu trưởng), Nguyễn Quyền (giám học) và Lê Đại, Vũ Hoành, Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Kì, Dương Bá Trạc...Nhóm này do có cùng chí hướng và nhận thức, lại tiếp thu trào lưu duy tân từ Nhật Bản, Trung Quốc (TQ) và tư tưởng tiên tiến của hai nhà cách mạng Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, nên đã tự tìm đến với nhau họp bàn và nhất trí chủ trương: trước hết, mở trường dạy cho đông đảo đồng bào các kiến thức cần thiết nhất để làm cho dân giàu nước mạnh noi gương Nhật bản, cuối cùng tiến tới mưu đồ sự nghiệp giải phóng đất nước. Hai cụ Phan có liên hệ chặt chẽ với nhóm này; do từng thăm trường Khánh ứng nghĩa thụccủa Fukuzawa Yukichi ở Tokyo nên hai cụ rất hiểu tác dụng của giáo dục quốc dân đối với việc thực hiện “quốc phú bình cường” của nước Nhật.

ĐKNT khai giảng tháng 3 năm 1907, hai tháng trước khi có giấy phép. Trường không thu học phí, các tài liệu giảng dạy và tuyên truyền đều phát không cho học viên. Ai muốn học đều được, bất kể già trẻ gái trai, kể cả nhà Nho muốn học tiếng Pháp. kinh phí hoạt động dựa vào sự đóng góp tuỳ tâm của dân; giáo viên thời gian đầu không lĩnh lương. Bộ máy nhà trường gồm 4 ban: Giáo dục (mở lớp và giảng dạy), Tu thư (soạn sách), Cổ động (tuyên truyền), và Tài chính (lo kinh phí). Trường dạy các môn: Quốc ngữ, chữ Hán (chỉ để đọc tân thư), tiếng Pháp, các thường thức về xã hội, lịch sử, địa dư, chính trị, kinh tế, quyền công dân. Nhà trường có một cơ quan ngôn luận riêng là tờ Đại Việt Tân báo; một thư viện nhiều sách báo với thủ tục cho mượn rất dễ, chỉ cần đọc xong thì trả lại; một hòm thư trưng cầu ý kiến nhân dân đóng góp xây dựng trường...

ĐKNT đặc biệt chú trọng việc biên soạn tài liệu giảng dạy, tuyên truyền. Các lớp cao dùng ngay tân thư Trung Quốc (chủ yếu do người TQ dịch từ sách Nhật) để giảng dạy, vì học viên đã biết chữ Hán; các lớp dưới dùng sách quốc ngữ hoặc chữ Hán do trường biên soạn. Văn thơ của các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền...cũng được dùng để giảng dạy. Nội dung các tài liệu nói trên đều nhằm nâng cao lòng yêu nước, đả phá nền cựu khoa hoạn phong kiến cùng lối sống cũ, đề xướng tân học cùng lối sống mới, học văn minh phương Tây, học chữ quốc ngữ và khoa học kĩ thuật, chấn hưng kinh tế...

Hội quán ĐKNT treo một bản đồ Tổ quốc lớn chưa từng thấy nhằm khích lệ lòng yêu nước một cách trực quan, cảm tính; đồng bào rủ nhau đến xem rất đông, ai cũng hồ hởi. Một số tài liệu nhà trường phát cho học viên có nội dung vạch tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi đồng bào đứng lên cứu nước. Như hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu được Lê Đại dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt, chuyển thành thể thơ song thất lục bát rất hay, dễ nhớ dễ truyền khẩu, cả nước ai cũng thuộc. Những câu như: “Đội trời đạp đất ở đời/ Sinh ra Nam quốc là người trượng phu/ Ai cũng bụng phục thù báo quốc/ Thấy giống người nước khác ai ưa ?/ Cớ sao ngày tháng lần lừa/ Rụt rè như thế, đợi chờ ngóng trông ?”“Lẽ vinh xỉ có hai đường ấy/ Anh em ta đã nghĩ cho chưa ?/ gió tanh xông mũi khó ưa/ Gươm sao cắp nách mà ngơ cho đành/ Hòn máu chất uất quanh đày ruột/ Anh em ơi, xintuốt gươm ra !”...“Cờ độc lập xa trông phấp phới/ Kéo nhau ra đòi lại nước nhà !”sao mà kích động lòng người !

Với nội dung hoạt động như vậy, ĐKNT lập tức được nhân dân ta vốn giàu lòng yêu nước và hiếu học hăng hái hưởng ứng, ủng hộ. Số học viên từ khoảng dăm chục lúc đầu sau vài tháng lên tới mấy nghìn, và tiếp tục tăng dần. Nhiều nhà trí thức Nho học và Tây học tình nguyện giảng dạy, như hai nhà Tây học nổi tiếng nhất thời ấy là Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn giúp dạy tiếng Pháp. Cụ Phan Chu Trinh diễn thuyết tuyên truyền cho ĐKNT. Đồng bào các giới nô nức góp tiền của cho trường, có lúc nhiều tới mức thu không xuể. Nhân sĩ khắp ba kì kéo nhau đến xem, ai đấy đều hồ hởi hoan nghênh, ủng hộ. thời gian đầu bọn Pháp cũng không ngăn cấm mà còn phỉnh phờ. Phong trào lan ra nhanh chóng. sĩ phu ở một số tỉnh tự động lập phân hiệu của ĐKNT. Bà con truyền nhau mấy câu thơ: “Trường nghĩa thục đứng đầu dạy dỗ/ Khắp ba mươi sáu phố Hà thành/ Gái trai nô nức học hành/ Giáo sư 8 lớp, học sinh non ngàn”“Buổi diễn thuyết người đông như hội/ Kỳ binh văn khách tới như mưa”.

Trong hoàn cảnh hồi ấy, khi các cuộc nổi dậy chống Pháp đều bị dìm trong biển máu, lối thoát cho công cuộc giải phóng dân tộc ta chưa thể là khởi nghĩa vũ trang, mà là chuẩn bị lực lượng quần chúng: Trau dồi cho đông đảo đồng bào yêu nước và các kiến thức cần thiết nhất để đổi mới xã hội về mọi mặt kinh tế, chính trị, khoa học kĩ thuật, làm cho dân giàu nước mạnh. ĐKNT chọn giáo dục quốc dân làm biện pháp chuẩn bị lực lượng cách mạng là sự lựa chọn sáng suốt hồi ấy. Gây dựng được phong trào đông đảo quần chúng hăng hái học tập như thế quả là một việc chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta.

ĐKNT trước hết tập trung vào chủ đề giáo dục. Nền giáo dục nước ta xưa nay chủ yếu dập khuôn TQ “đặt đạo đức lên đầu, xem trí năng là thứ yếu, cho nên không cần nói tới giáo dục quốc dân...Chỉ những ai có chí làm công khanh, đại phu mới đi học, chớ không phải là giáo dục quốc dân nhằm phổ biến rộng rãi trong dân chúng, mà là định phân trên dưới, giữ gìn lễ phép. Đường lối giáo dục quốc dân không phải như thế, mà là làm rõ cái lí tương quan giữa nước với dân, sao cho họ biết vị trí của họ trong xã hội, chức phận ra sao, và làm thế nào để gây ý thức ái quốc ái quần, bồi dưỡng tài năng tự trị, tự lập...một nước không có giáo dục quốc dân thì trăm họ u mê, không biết quốc gia, chính trị là gì”.ĐKNT kêu gọi: “Liệu mà sớm bảo nhau đi/ Giàu thì giúp của, nghèo thì gắng công/ Khăng khăng ghi lấy một lòng/ Sang Âu, sang Mỹ học tòng nghề hay/ Bao nhiêu nghề khéo nước ngoài/ Học sao cho được hơn người mới nghe/ Bấy giờ rồi liệu trở về/ Mở trường trong nước lấy nghề dậy nhau...”

Nghĩa là ĐKNT muốn làm cuộc cách mạng về đối tượng, mục đích và phương thức giáo dục: Từ chỗ chỉ giáo dục một số ít người chuyển sang giáo dục số đông dân chúng, từ chỗ chỉ đào tạo người làm quan sang đào tạo người làm công dân, từ giáo dục tự nguyện sang giáo dục bắt buộc, từ chỉ đi học trong nước sang đi học nước ngoài. Nền giáo dục cũ chỉ dùng chữ Hán, một thứ chũ rất khó học, chỉ một số cực ít người muốn làm quan và có điều kiện mới chịu học. Kiến thức họ được học toàn là các kinh điển Nho giáo, văn chương cổ lỗ có từ hàng nghìn năm trước, xa rời thực tế xã hội, không ích gì cho phát triển kinh tế, chính trị, KHKT, nâng cao đời sống nhân dân. Hậu quả là các nhà Nho vô dụng lại làm quan cai trị dân. Chính vì thế mà dân ngu nước yếu, không chống nổi ngoại xâm. Đã vậy các nhà hủ Nho lại mù quáng tôn vinh văn minh Nho giáo cổ hủ, tự cao, tự đại, khinh thường mọi thứ của người phương Tây, như văn minh phương Tây, chữ quốc ngữ, khoa học kĩ thuật và văn minh vật chất. Các yếu nhân ĐKNT là các nhà Nho, song do tiếp thu được tư tưởng duy tân từ Nhật và TQ nên họ thấy rõ nếu muốn dân giàu nước mạnh thì trước hết phải tiến hành nâng cao dân trí tức tiến hành giáo dục quốc dân...

Vì thế họ phải kiên quyết đả phá các nhà hủ nho. “ Cáo hủ lậu văn” viết: “Ôi ! Các bố, có óc thông minh, ở làng cao sang, đọc sách hiền triết, làm mẫu da vàng ! Đương lúc này nghe mới thấy lạ, cuộc đời mở mang sao không ra tay cứu vớt người chìm đắm, đánh thức kẻ mơ màng ! Tai hại hay hủ thư ! Đục nát bét các bố ! Đau đớn thay hủ nho ! Làm các bố lầm lỡ !”.

Muốn phổ cập giáo dục thì phải dùng chữ quốc ngữ. “Văn minh Tân học sách”của ĐKNT viết: “Người trong nước đi học nên lấy chữ quốc ngữ làm phương tiện, đầu tiên để trong thời gian một vài tháng, đàn bà trẻ con đều biết chữ và có thể dùng...Đó thực là bước đầu tiên để mở mang trí khôn vậy”.Làm cho dân ta chấp nhận thay một loại văn tự mới thay cho chữ Hán quen dùng hàng nghìn năm là một cách mạng lớn về văn hoá giáo dục của ĐKNT. Hầu hết giới trí thức ta ngày ấy chỉ biết chữ Hán, họ tẩy chay chữ quốc ngữ viết bằng bút săt “mọi rợ”, “ngoằn ngoèo như con run”. Vả lại chữ quốc ngữ ngày ấy chưa hoàn hảo như ngày nay. Sử gia Chương Thâu đánh giá: Với việc thực hiện dạy chữ quốc ngữ, ĐKNT đã tiến xa hơn các nhà duy tân TQ chỉ hô hào bỏ khoa cử và lối văn tám vế (bát cổ) nhưng vẫn giữ cổ văn, cho tới năm 1917 mới đề nghị dùng bạch thoại.

ĐKNT đề xướng học không vì bằng cấp, “chỉ cốt học để làm người dân, chứ không học lối từ chương khoa cử, là cái di độc ngày xưa còn lại, lúc bấy giờ chúng tôi ghét lắm”.(Lời giám học Nguyễn Quyền). Ông Chương Thâu nhận xét: Lần đầu tiên trong lịch sử, ĐKNT đã thành công tách rời thi cử ra khỏi giáo dục. ĐKNT hô hào: “Thiếu niên chúng ta phải ra sức học cái hữu dụng, chớ để các khoa cử phá hỏng chí hướng của mình”.Nếu cứ học theo lối cũ “thì nước ta sẽ không đời nào hưng thịnh được”và: “Liệu mà sớm bảo nhau đi/ Giàu thì giúp của, nghèo thì gắng công/ Khăng khăng ghi lấy một lòng/ Sang Âu, sang Mỹ học tòng nghề hay/ Bao nhiêu nghề khéo nước ngoài/ Học sao cho được hơn người mới nghe/ Bấy giờ rồi liệu trở về/ Mở trường trong nước lấy nghề dậy nhau/ Làm cho trong nước mạnh giàu/ So vào các nước Mỹ Âu kém gì”

ĐKNT dạy các thường thức về chính trị, kinh tế, xã hội. Điểm qua một số bài trong số 79 bài của Quốc dân tộc bảnlà đủ thấy điều đó: - quan hệ giữa nước với dân; - Nỗi bi thảm quốc gia không được độc lập; - Lòng yêu nước; - Độc lập; - Cạnh tranh; - Chính trị; - Bàn về cái hại của khoa cử; - Thuế khóa; - Pháp luật; - Nước ta nên chấn hưng thực nghiệp; - Máy móc; - Ích lợi của đại công nghiệp; - Tiền công; - Tư bản; - Nhà đại tư bản cũng có ích cho người nghèo; - Thương mại; - Tiền tệ; - Trái phiếu, hối phiếu; - Séc; - Công ty; các bài viết về nước Nhật (chính thể, giáo dục...) Sách Luân lý giáo khoacó các chương nói về nghĩa vụ của dân với Tổ quốc, bản thân, gia đình, xã hội, với muôn loài.

Khác hẳn thứ cựu học chỉ dạy học sinh thuộc lòng thứ văn chương cao sang khó hiểu viết từ mấy nghìn năm trước, các tài liệu giảng dạy của ĐKNT thường viết dưới dạng thơ ca dễ hiểu, dễ học, dễ nhớ. Sách Quốc văn tập đọc có 19 bài ca như: Khuyên học chữ quốc ngữ, khuyên yêu nước, khuyên họp đàn, mẹ khuyên con, răn người uống rượu, răn người đánh bạc... “”Bài ca khuyên người đi tu” viết: “Phen này cắt tóc đi tu/ Tụng kinh độc lập, ở chùa Duy Tân/ Đêm ngày khấn vái chuyên cần/ Cầu cho ích lợi quốc dân mới là...”,“Bài vợ khuyên chồng” viết: “Anh làm sao cho ích nước lợi nhà/ Một nghề tân học ắt là phải thông/ Anh làm sao cho nổi tiếng Lạc Hồng/ Có khôn mới đứng được trong cõi đời”.

Sơ bộ điểm qua một vài nét kể trên, chúng ta có thể nhận thấy các yếu nhân ĐKNT đã thực sự làm một cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên với quy mô lớn ở nước ta. Tiếc rằng ĐKNT chỉ hoạt động được trong 9 tháng đã bị thực dân Pháp cấm, vì chúng nhìn thấy tính chất tiến bộ, cách mạng của trường đe dọa ách thống trị của chúng. Các tài liệu của ĐKNT đều bị tiêu huỷ, ai tàng trữ sẽ bị bắt; vì thế cho nên hiện còn rất ít tài liệu để tham khảo. Nhiều yếu nhân ĐKNT bị thực dân Pháp kết án từ tử hình đến 5 năm tù. tuy vậy ảnh hưởng của ĐKNT vẫn tiếp tục lan ra trong cả nước, góp phần chuẩn bị cho các phong trào yêu nước chống Pháp sau này. Các đóng góp quý giá về mặt chính trị cũng như văn hoá giáo dục của ĐKNT mãi mãi đáng ca ngợi, truyền tụng.

Nguồn: Tạp chí Thế giới quanh ta số 269 - 11/2006, trang 5-8.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.