Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 24/10/2011 17:45 (GMT+7)

Công nghiệp phần mềm thế giới và xu thế phát triển ở Việt Nam

1. Công nghiệp phần mềm thế giới - xu thế nổi bật

Động thái và những chuyển đổi trong trào lưu phát triển ở các quốc gia.

Theo số liệu của Trung tâm Dữ liệu Quốc tế (IDC), những năm gần đây doanh thu từ lĩnh vực (công nghiệp phần mềm) CNPM thế giới đã có bước tăng trưởng vượt bậc. Đi cùng xu thế đó là việc phân bổ lại các ngành. Những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ XX, CNPM (chiếm 97% doanh thu toàn cầu) tập trung chủ yếu ở các nước phát triển thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Những năm 1990, trong giá trị CNPM thế giới, Hoa Kỳ chiếm 57%, 5 nước thuộc OECD (Nhật, Pháp, Đức, Anh và Canada) chừng 37%. Mười năm gần đây, tỷ trọng CNPM thế giới có sự thay đổi với việc nổi lên của các nước đang phát triển như Ấn Độ, Trung Quốc và một số nước khác, đã làm tỷ trọng của Hoa kỳ giảm xuống ở mức 39% và 5 nước thuộc OECD giảm chỉ còn 27%. Thành công của CNPM Ấn Độ, Trung Quốc và nhiều nước đang phát triển đã khẳng định, tập trung phát triển ngành công nghiệp này là một hướng đi đúng đắn. Tuy nhiên, thị phần CNPM của các nước đang phát triển  còn nhỏ (chừng 4%) trong chuỗi giá trị toàn cầu. Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới về CNPM với doanh thu hàng năm trên 280 tỷ USD (chiếm 35% giá trị tiêu thụ toàn cầu). Năm 2000, giá trị nhập khẩu CNPM của Hoa Kỳ đạt trên 11 tỷ USD. Nhật Bản là nước có doanh thu CNPM đứng thứ 2 sau Mỹ, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 45%. Sản phẩm phần mềm Nhật Bản chiếm 20% thị phần thế giới, tăng trưởng mạnh, song có chiều hướng thiên về thuê gia công ở nước ngoài. Ở châu Âu, 17 nước Tây Âu có giá trị tiêu thụ phần mềm hàng năm chiếm trên 24% giá trị toàn cầu, nhưng chủ yếu là phần mềm dịch vụ (chừng 2/3). Ấn Độ được xếp là một cường quốc xuất khẩu phần mềm với khoảng 3.000 công ty, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm 45% trong suốt thập niên 1990. Năm 2005, Ấn Độ có 1,3 triệu người làm việc trong lĩnh vực CNPM, doanh thu đạt trên 29,3 tỷ USD, khoảng 80% doanh số là từ xuất khẩu. Trung Quốc chưa có thành công rực rỡ như Ấn Độ song có sự phát triển đầy ấn tượng. Năm2002, doanh thu CNPM Trung Quốc đạt 13,3 tỷ USD, với nhịp độ tăng trưởng hàng năm đạt 87,3% về dịch vụ và chừng 20% đối với phần mềm đóng gói.

1.1. Nhân lực CNPM - thách thức phát triển ở mọi quốc gia

Nét nổi bật ở mọi quốc gia trong phát triển CNPM là sự thiếu hụt trầm trọng nguồn nhân lực trí tuệ và giá nhân công gia tăng nhanh (đặc biệt là ở các nước đã phát triển). Hoa Kỳ hiện có khoảng 1.000.000 kỹ sư phần mềm, hàng năm chỉ đào tạo được thêm 20.000 nên không thể đáp ứng được nhu cầu ngày một gia tăng (năm 2005, ngành CNPM Hoa Kỳ tuyển dụng thêm 43.400 kỹ sư, con số này năm 2006 lên 88.500 người). Nhật Bản hiện có 600.000 kỹ sư phần mềm (ước tính thiếu trên 70.000 người). Tại những nước đang phát triển, nhu cầu nhân lực cho CNPM cũng ngày một gia tăng. Năm 1999, Ấn Độ có 280.000 lao động phần mềm đến năm 2005, con số này đã vượt lên đến 1.300.000. Tại Trung Quốc, năm 2003 có khoảng 700.000 lao động phần mềm, đến 2006 đã tăng gần gấp đôi (trên 1.200.000 người).

1.2. Công ty toàn cầu và xu thế chuyển hoá sản phẩm

Quá trình phát triển CNPM cho thấy, các công ty phần mềm đã không ngừng tích hợp để trở thành những tập đoàn có sức mạnh chi phối toàn cầu. Hầu hết những tập đoàn phần mềm lớn đều là những tổ chức kinh tế của các nước thuộc OECD. Với đặc thù của sản phẩm CNPM, không có nước nào hoặc công ty nào chỉ xuất mà không nhập. Những nước có doanh thu xuất khẩu cao thường lại là thị trường nhập khẩu phần mền lớn nhất. Trong xu thế Softwware Outsourcing hiện nay, hầu hết những công ty phần mềm toàn cầu đều thực hiệnviệc thuê gia công phần mềm ở các nước đang phát triển. Tổ chức Nghiên cứu Thị trường Gartner cho biết, gần 80% doanh nghiệp phần mềm (DNPM) Hoa Kỳ thực hiện việc thuê gia công ở ngoài nước, số còn lại theo dự báo, sớm muộn rồi cũng gia nhập vào trào lưu này.

Phân tích động thái và trào lưu phát triển CNPM thế giới có thể thấy, vào thập niên 1980-1990, ưu thế CNPM thuộc về những nước trong tổ chức OECD; đến nay đang có xu thế chuyển dịch sang những nước đang phát triển. Trong cơ cấu sản phẩm, dịch vụ phần mềm vẫn chiếm ưu thế (khoảng 2/3), phần mềm đóng gói chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu là ở các nước công nghiệp phát triển. Trước thách thức về nguồn nhân lực và giá lao động gia tăng, nhiều công ty phần mềm đang chuyển hướng sang tìm dối tác ở nước ngoài để thực hiện gia công một phần hoặc toàn bộ sản phẩm, nhiều dịch vụ đầu cuối đang được dịch chuyển đến những nước đang phát triển. Các công ty đa quốc gia đã thiết lập những chi nhánh và trung tâm hỗ trợ khách hàng bên ngoài chính quốc. Trong xu thế này, những nước đang phát triển có cơ hội để thu hút các tập đoàn phần mềm lớn đầu tư trực tiếp vào phát triển CNPM hoặc thiết lập những chi nhánh ở đất nước mình. CNPM chịu sự chi phối nhiều mặt về công nghệ của các hãng và tập đoàn lớn, nắm bắt được xu thế phát triển công nghệ và sản phẩm tương lai trong làn sóng đầu tư nước ngoài để xây dựng chiến lước phát triển thích hợp, có thể là cơ hội cho phát triển CNPM ở những nước đi sau.

2. CNPM Việt Nam - thực trạng và vấn đề cần quan tâm

Việt Nam được đánh giá có tiềm năng phát triển CNPM, ngành công nghiệp này đang là nơi thu hút nhiều lao động trẻ, có trình độ cao trong nước và việt kiều từ nước ngoài. Phần mềm và công nghệ thông tin (CNTT) ngày càng được phổ cập trong đời sống xã hội với gần 20 triệu người sử dụng Internet. Thực tế gần đây cũng cho thấy, CNPM tuy mới phát triển nhưng đã tạo việc làm cho trên 48.000 lao động với thu nhập bình quân đạt khoảng 10.000 USD/năm. Đội ngũ lao động trong ngành đã góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế (trên 40%/năm) và giá trị xuất khẩu phần mềm đạt mức tăng trưởng bình quân trên 55%/ năm liên tục trong thời gian gần đây ( năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 180 triệu USD). Có thể nói, ngành CNPM nước ta đã có những bước tiến quan trọng, được xem là 1 trong 20 thị trường hấp dẫn toàn cầu và theo Hiệp hội CNTT Nhật Bản (JISA), Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ và Trung Quốc để có vị trí đứng đầu trong sự lựa chọn của các doanh nghiệp Nhật Bản đặt gia công phần mềm.

2.1 Thị trường phần mềm Việt Nam trong bước khởi đầu

Theo đà phát triển của CNTT, thị trường phần mềm nước ta đã có sự tăng trưởng khá mạnh. Từ năm 2000 đến 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường nội địa đạt trên 32%/năm. Trong tổng giá trị sản phẩm và dịch vụ phần mềm năm 2006 (350 triệu USD) và năm 2007 (khoảng 500 triệu USD) thị trường trong nước tiêu thụ gần 2/3. Theo phân tích, cơ quan hành chính sự nghiệp và công ty Nhà nước là những khách hàng tiềm năng của CNPM Việt Nam (chiếm 1/3 tổng chi tiêu cho CNTT cả nước). Trong xu thế hội nhập, việc ứng dụng CNTT trong các ngành viễn thông, ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, dầu khí... gia tăng mạnh. Tuy nhiên, các DNPM Việt Nam hiện vẫn thiếu thông tin và số được hưởng lợi từ các dự án nhà nước còn thấp. Hạn chế lớn về thị trường của DNPM trong nước là thiếu thông tin và thị trường không ổn định. Để định hướng phát triển thị trường nội địa, Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA) cho rằng, cần có những biện pháp kích cầu, không chỉ đơn thuần là bỏ tiền ngân sách mua phần mềm mà quan trọng là phải đặt ra chuẩn mực, hướng dẫn cho các doanh nghiệp nên mua phần mềm nào cho hiệu quả và khuyến khích việc sử dụng những phần mềm nội địa. Số liệu công bố cho thấy 81,8% số tổng công ty 91 có sử dụng CNTT, đến tổng công ty 90 còn 50%, 26,8% số công ty độc lập sử dụng CNTT, các dạng công ty khác chỉ có 25%. Sản phẩm và dịch vụ phần mềm được quan tâm nhiều nhất là phần mềm quản lý doanh nghiệp, tiếp đó là phần mềm quản lý bán hàng và vật tư. Tuy nhiên, cái mà doanh nghiệp cần nhất cũng mới chỉ là phần mềm phổ cập, mang giá trị thấp, có thể cung cấp hàng loạt như phần mềm kế toán. Một trong những sản phẩm được đánh giá có tiềm năng là phần mềm quản lý, hoạch định tài nguyên doanh nghiệp (ERP) song mới chỉ có chừng 3% doanh nghiệp được khảo sát quan tâm, chừng 7% doanh nghiệp có nhu cầu, số còn lại dường như chưa có khái niệm về việc sử dụng sản phẩm này. Thị trường xã hội mới tập trung vào phần mềm giải trí với những trò chơi trực tuyến, phần mềm và các dịch vụ gia tăng cho thiết bị thông tin di động và các phần mềm cho giáo dục đào tạo. Sự bùng nổ của trò chơi M.U Online cuốn hút hàng trăm nghìn người tham gia chỉ trong một thời gian ngắn, đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp phần mềm đầu tư vào lĩnh vực này.

Tuy chỉ bắt đầu bước vào thị trường xuất khẩu trong vòng 10 năm gần đây, song phần mềm xuất khẩu Việt Nam đã có nhịp độ tăng trưởng khá nhanh. Nhiều công ty phần mềm đã vươn tới những thị trường lớn ở Hoa Kỳ, châu Âu và Nhật Bản với kim ngạch xuất khẩu hàng năm không ngừng gia tăng (từ 70 triệu USD năm 2005 lên 110 triệu USD năm 2006, tăng 57%, đạt 180 triệu USD, tăng gần 64% trong năm 2007). DNPM nước ta đã tìm được những khách hàng lớn để gia công xuất khẩu nhưng chủ yếu mới là dịch vụ và đang gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt từ các DNPM Ấn Độ, Nga, Trung Quốc.

2.2 Hiện trạng doanh nghiệp CNPM Việt Nam

Hiện nay, trên địa bàn cả nước có khoảng 4.000 doanh nghiệp đăng ký sản xuất kinh doanh phần mềm, song số thực sự sản xuất phần mềm mới có trên 750 doanh nghiệp. Trong số này, 52% ở thành phố Hồ Chí Minh, 40% ở Hà Nội, các địa phương khác khoảng 8%. Trong cơ cấu DNPM nước ta, trên 86% là những công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp tư nhân; 8% là những doanh nghiệp liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài; số doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 5,1% Nhiều tổ chức nước ngoài tuy chỉ mới thành lập văn phòng đại diện ở Việt Nam, nhưng lại giành được những hợp đồng lớn để cung cấp giải pháp phần mềm, đẩy nhiều DNPM Việt Nam vào thế bị cạnh tranh gay gắt ngay tại sân nhà. Trong số những DNPM đang hoạt động, khoảng 150 doanh gnhiệp tham gia gia công xuất khẩu phần mềm. Tuy nhiên, đại bộ phận DNPM Việt Nam đều quy mô nhỏ, thiếu lao động có kỹ năng chuyên môn (nhất là lao động quản lý và làm việc theo nhóm)... Cùng với sự phát triển của doanh nghiệp, đội ngũ lao động phần mềm và nội dung số đã có sự phát triển với mức tăng trưởng bình quân hàng năm từ 35% đến 40%. Cả nước hiện có 99 đại học, 105 trường cao đẳng đào tạo chuyên ngành CNTT và 72 trung tâm đào tạo liên kết với nước ngoài cấp bằng CNTT. Số sinh viên nhận bằng kỹ sư và cử nhân CNTT hàng năm khoảng 10.000 người song vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu hiện nay.

2.3 Thách thức và những triển vọng

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hạn chế về số lượng và quy mô doanh nghiệp xuất khẩu phần mềm đang là một trở ngại đối với việc phát triển CNPM nước ta. Bên cạnh đó, cơ sở luật pháp nhất là về sở hữu trí tuệ (SHTT) chưa đủ mạnh nên tỷ lệ vi phạm quyền SHTT phần mềm còn cao. Hạn chế này đòi hỏi Nhà nước phải thực thi những giải pháp mạnh để tăng cường hơn nữa việc bảo vệ quyền lợi của các chủ thể SHTT trong CNPM. Đội ngũ lao động tuy được đào tạo nhiều về số lượng, nhưng về kỹ năng (nhất là trình độ quản lý và ngoại ngữ) còn yếu; thiếu nghiêm trọng đội ngũ nhà quản lý chương trình (Program Manager) và quản lý dự án (Projet Manager) đòi hỏi phải có những chuyển hướng mạnh mẽ trong chủ trương đào tạo, đặc biệt là đào tạo đội ngũ các nhà quản lý và làm việc theo nhóm. Trong xu thế phục hồi và tăng trưởng mạnh mẽ của CNTT toàn cầu, từ sự thiếu hụt của đội ngũ chuyên gia CNTT thế giới, áp lực giảm giá và tăng năng suất trong ngành CNPM ở các nước phát triển đã hình thành trào lưu thuê gia công phần mềm và dịch vụ nước ngoài của các công ty, tập đoàn CNTT đa quốc gia và những doanh nghiệp lớn. Nhiều thị trường có nhu cầu ngày càng lớn về thuê gia công phần mềm đã hình thành ở Nhật Bản, Úc, Canada, Singapore, Hoa Kỳ và các nước châu Âu. Cùng với nhu cầu này, sự vượt lên của Ấn Độ, Trung Quốc, Ixraen... đã tạo áp lực cạnh tranh, buộc nhiều công ty phần mềm ở những nước phát triển phải chuyển hướng thuê gia công phần mềm sang những nước đang phát triển khác. Thế mạnh và sự hấp dẫn của CNPM Việt Nam được thể hiện ở các khía cạnh: Dân số trẻ (trên 60% trong tuổi lao động), nguồn nhân lực CNTT có trình độ cao, năng động và ham học hỏi; chi phí hoạt động và giá thuê nhân công rẻ (chỉ bằng 1/3 so với Ấn Độ và chừng ½ so với Trung Quốc). Ngoài ra, trong điều kiện chính trị, an ninh ổn định, an toàn xã hội được đảm bảo, CNPM Việt Nam ngày càng có sức hấp dẫn đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư CNTT nước ngoài.

Phát triển CNTT (đặc biệt là CNPM) là chủ trương ưu tiên của lãnh đạo Nhà nước, nhằm đi tắt, đón đầu để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thời gian qua, CNTT đã trở thành ngành kinh tế mũi, nhọn có tốc độ phát triển cao nhất và giá trị đóng góp vào tăng trưởng GDP ngày một lớn, trở thành ngành có sức hấp dẫn, thu hút mạnh đầu tư trong và ngoài nước. Những hoạt động hợp tác đầu tư trong lĩnh vực CNPM với nhiều nước diễn ra sôi nổi những năm gần đây đã mở ra nhiều triển vọng tốt đẹp với nhiều kế hoạch đầu tư lớn vào lĩnh vực này. Đây là một động thái quan trọng, mở đường cho sự phát triển thị trường gia công phần mềm và sự trưởng thành, lớn mạnh của các DNPM trong nước.

Tài liệu tham khảo

Thủ tướng Chính phủ: Quyết định 51/2007/QD-TTg  ngày 12.4.2007 phê duyệt Chương trình phát triển CNPM đến năm 2010

VINASA:

- Danh bạ sản phẩm, dịch vụ phần mềm Việt Nam 2007, NXB Bưu điện Hà Nội 2008

- Tổng quan phát triển thị trường phần mềm Việt Nam , Hà Nội 2008

- Nguyễn Anh Tuấn: Công nghệ phần mềm Việt Nam : Hiện trạng và định hướng, Hà Nội 2007

- Lê Minh Thanh: Xuất khẩu phần mềm Việt Nam , tất cả còn ở phía trước, Tạp chí Nhịp sống số 2008.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.