Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 03/10/2011 18:27 (GMT+7)

Công nghệ: Con đường duy nhất để công nghiệp hóa

Sự phát triển đột biến về công nghệ và các định chế kinh doanh toàn cầu từ cuối thế kỷ 20 làm thay đổi hoàn toàn lý thuyết về công nghiệp hóa (CNH). CNH kiểu cũ không còn môi trường hoạt động, trở nên lỗi thời và dẫn đến thất bại nếu vẫn áp dụng. Ngày nay, muốn CNH phải hiểu về Công-Nghệ, các hệ thống của nó, nắm được các quy luật vận động để "đáo giang" (qua sông) đúng lúc, hợp với "dòng chảy" của công nghệ và với sự đóng, mở của các cơ hội cửa sổ ( window opportunites ).

Khác biệt giữa CNH kinh điển và CNH ở thế kỷ 21

Trong bài này, thuật ngữ CNH vẫn cố ý được dùng để dễ hiểu tuy nội hàm của nó đã khác xa với kinh điển. Nó có thể không liên quan mấy tới  "công nghiệp" theo nghĩa truyền thống, mà đến kinh doanh, đến dịch vụ, đến tính sáng tạo, đến xã hội, ..v..v. Nó có thể không mang tính cân đối trong phạm vi một quốc gia "đóng" mà lại gắn chặt vào hệ thống sản xuất - kinh doanh, vào các chuỗi cung ứng trên thế giới.

Đặc điểm và sự khác biệt giữa CNH kinh điển và CNH từ cuối thế kỷ 20 như sau.

Một là: Yếu tố quyết định để CNH từ cuối thế kỷ 20 là Công-Nghệ chứ không còn là Vốn ( Capital ) hay Lao Động ( Labor ) như trước đây. Việc chuyển vai chính sang công nghệ đòi hỏi phải nghiên cứu các mối liên kết của công nghệ, chứ không phải của vốn và các vấn đề liên quan như lao động, giá trị, ..v..v. như K. Marx và các đồng sự đã làm trước đây. Nghiên cứu về công nghệ tốn kém và cần tính chuyên môn cao hơn so với nghiên cứu về vốn, lao động, giá trị, tương tự như học phí đại học ngành công nghệ cao gấp rưỡi hay gấp đôi học phí ngành kinh tế (ở các phát triển) do cần thí nghiệm, máy móc. Hiện Việt Nam chưa nghiên cứu, học tập kinh nghiệm thỏa đáng về các vấn đề này.

Hai là: Toàn cầu hóa tác động vào các nước mạnh hơn so với thế kỷ 17, 18 hay khi mới CNH và 1970-80, khi bốn nước châu Á công nghiệp hóa thành công. Càng phát triển, tác động này càng nhanh hơn, mạnh, với tính bất khả tiên lượng và tính phức tạp cao hơn, vv. Qua đó, CNH dựa rất nhiều vào việc hành động đúng quy luật, hợp với "dòng" chuyển động của các hệ thống bên ngoài.

Ba là: Ở CNH kinh điển, nhà nước, "bàn tay hữu hình", có vai trò rất lớn vì nắm vốn, thị trường nội địa, chính sách, bảo hộ, doanh nghiệp nhà nước, vv.

Nay, thị trường và tư nhân đang dần đóng vai chính. Vì vậy, CNH kiểu kinh điển với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không thể được vì không huy động được sức mạnh chính của nền kinh tế. Chỉ nhà nước có nền kinh tế thị trường mang tính chuyên nghiệp mới quản lý, giải quyết tốt mối tương tác này giữa Nhà nước và thị trường cũng như các mối liên kết công nghệ.

Công nghiệp hóa theo kiểu kinh điển ở thế kỷ 21 có khả thi?

Mô hình CNH tuần tự, tuyến tính từ công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, điện, ..v..v.. đã trở nên không khả thi trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi các công ty đa quốc gia và các cường quốc kinh tế chia sẻ lợi ích với nhau, tạo ra các định chế, hiệp ước kinh tế có lợi cho họ, kéo các nước đang phát triển vào vòng xoáy khó bề thoát ra nổi. Ngày nay, không thể dựa vào vốn và chính sách bảo hộ thị trường nội địa như thời CNH kinh điển được nữa.

Công nghệ nay đã phát triển trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tỷ trọng của năng suất lao động (mà phần chính là công nghệ) đã gia tăng và trở nên áp đảo so với vốn và lao động trong việc tạo ra giá trị (đây là lao động giản đơn trong lý thuyết CNH kinh điển). Vì vậy, ngày nay, cách tối ưu để CNH là thông qua công nghệ, chứ không phải vốn và lao động.

Vì sao đây là con đường duy nhất đến CNH?

Công nghệ đang dần thay đổi cách sống của con người, cách thức điều hành xã hội. CNH, với cỗ máy làm giàu chính là công nghệ, ngày càng ít mang tính chính trị và tính chuyên môn ngày càng cao.

Không phải ý chí, quyết tâm, vốn, thậm chí tài nguyên, vật chất, quyết định thành công của CNH mà là sự hiểu biết cách thức, chu kỳ hoạt động của công nghệ và các hệ thống sản xuất - kinh doanh toàn cầu. Thuyền lớn nếu không biết dòng chảy, chỗ xoáy, con nước sẽ khó đáo giang hơn thuyền nhỏ mà biết các quy luật này.

Phạm trù công nghệ ngày nay đã rộng hơn rất nhiều so với thời kỳ CNH kinh điển. Khác với CNH kinh điển với máy móc, thiết bị "cứng", nay công nghệ "mềm", sản phẩm trực tiếp nhất của tri thức, các know-how về quy trình kỹ thuật và phi kỹ thuật, về công nghệ trong thương mại, kinh tế, kinh doanh, ngày càng trực tiếp và đóng góp lớn để tạo ra giá trị, trở nên áp đảo so với công nghệ mang tính vật thể. Dưới giác độ này, CNH, với các hệ thống liên quan phức tạp của nó, cũng là một công nghệ.

Công nghệ ngày nay hòa vào quá trình tạo ra giá trị, nó trở cấu phần của doanh nghiệp. Điều này khác hẳn với thời kỳ CNH kinh điển khi mà công nghệ đi liền, hay là "công đoạn" tiếp theo của khoa học. Điều này làm giảm tính kinh tế của công nghệ và làm nó khó nắm bắt được "hơi thở" của thị trường để phục vụ. Đây là lý do vì sao R&D (Nghiên cứu và Phát triển) ngày càng rời xa tháp ngà khoa học và đi vào doanh nghiệp. Lưu ý là công nghệ ở đây bao gồm cả cho sản xuất sản phẩm hữu hình và vô hình cũng như trong thị trường sở hữu trí tuệ, nơi chắc chắn sẽ ngày càng sôi động.

Các "công đoạn" của cái ngày xưa gọi là khoa học và công nghệ, thường tuần tự, tách bạch, từ hhoa học rồi qua công nghệ. Nay, do sự hợp lưu ( convergence ) của rất nhiều công nghệ và len lỏi, vào cuộc của thị trường công nghệ, các công đoạn bị cắt nhỏ ra, đan xen, hòa quyện vào nhau, tạo ra rất nhiều "ngã rẽ" (những điểm bán, mua công nghệ), giống liên kết chùm hơn là các mạch tuyến tính. Hệ thống này làm tăng việc thương mại hóa công nghệ.

"Đổi mới" (hay đổi mới -sáng tạo, Innovation ), với mục đích thương mại hóa tri thức, có nội hàm rộng hơn và đem lại giá trị hơn nhiều so với "khoa học và công nghệ" ở thời kỳ CNH kinh điển. Thị trường công nghệ (khá độc lập với khoa học), với các doanh nghiệp đổi mới - sáng, tiêu biểu là Thung lũng Silicon của Mỹ, tạo ngày càng tạo ra nhiều giá trị và ngày càng sôi động. Đổi mới - sáng tạo tự nó sẽ "kéo" công nghệ dần xa khỏi khoa học và hòa nó vào doanh-nghiệp, nơi tạo ra giá trị.

Các chuyên gia nói: Đổi Mới-Sáng Tạo đang xóa bỏ sự "cưỡng hôn" giữa Công-Nghệ và Khoa-Học là vì vậy.

Gợi suy cho Việt Nam

Cần hiểu các mối liên kết công nghệ như: chu kỳ công nghệ, đường cong tiến hóa của từng công nghệ, rào cản của thị trường công nghệ cụ thể, quy luật dòng chuyển giao công nghệ, hệ thống công nghệ, phát triển tiệm tiến, hay đột biến của công nghệ, cách mạng công nghệ, mô thức kinh tế -công nghệ, độ trễ trong công nghệ, đặc biệt, các "đứt đoạn" ( discontinuities ) hay còn gọi là các cửa sổ ( windows ) trong sự tiến hóa của công nghệ, nơi mà các nước (hay doanh nghiệp) có thể "nhảy cóc" vào được. Các cơ hội này thường có ở các cuộc cách mạng công nghệ (hay các đột phácông nghệ ), thường diễn ra cứ nửa thế kỷ một lần, với sự thay đổi hướng hay bước ngoặt về công nghệ. Đây là những "bến đỗ" hiếm hoi của con tàu công nghệ và văn minh nhân loại để lấy thêm du khách và thải ra những hành khách không thể theo kịp. Muốn du hành trên con tàu Phát-Triển thì phải lên tàu ở những bến đỗ đó. Nếu không tìm ra "công nghệ" để bước lên được con tầu đó thì không thể CNH thành công. Chính vì vậy, công nghệ là con đường duy nhất để CNH. Do tính chuyên môn, các vấn đề trên sẽ được đề cập chi tiết trong các bài sau.

Việt Nam luôn khẳng định CNH nhưng chưa hiểu rõ và thống nhất về CNH. Nguy hiểm ở chỗ: vẫn theo CNH kinh điển dù không khả thi, hoặc là không rõ nội dung, nhưng vẫn theo đuổi mà chưa bao giờ thực sự nhập cuộc.

Giới chuyên môn cần nói cho lãnh đạo rõ: Công-Nghệ hay CNH có thể đem lại gì. Qua đó, một mặt, tránh trông đợi quá viển vông vào CNH; mặt khác, biết cái có thể đạt được để mà thực hiện. Cả hai mặt yếu sau ta đều có. Một là coi CNH như cây đũa thần sinh ra mọi thứ. Hai là không biết cái có thể đạt được để làm.

Việc "đặt bài" chưa rõ nên chương trình CNH, khoa học và công nghệ trở nên chông chênh, không có mục tiêu rõ ràng cần đạt tới. Khoa học và công nghệ, vốn dĩ dễ xa rời hiệu quả kinh tế, thì trong hoàn cảnh này lại càng bị phân tán. Đây là việc mang tính chuyên môn của cả lãnh đạo và nhà chuyên môn. Cần có cơ chế để lãnh đạo lắng nghe chuyên môn (giỏi) và giới chuyên môn đưa ra được phương án để lãnh đạo chọn.

Việt Nam nên thuê tư vấn nước nước ngoài để hoạch định chiến lược CNH cho mình, đặc biệt trong các vấn đề liên quan đến công nghệ, chu kỳ và cách mạng công nghệ, cơ hội cửa sổ, vv. Việc này có thể làm tập trung  ở cấp trung ương với một nhóm công tác. Nhóm này sẽ dần tiếp thu được "công nghệ" CNH và dần có thể theo dõi, điều hành.

Việt Nam không chỉ kém ở công nghệ mà còn ở sự hiểu biết về hệ thống sản xuất - kinh doanh trên thế giới, về chuỗi cung ứng cùng cách hoạt động, quy luật của nó.

Tính công nghệ ta cần chỉ ở mức áp dụng chứ không phải sáng tạo. Vì vậy, chương trình đại học công nghệ ở Việt Nam chuyển từ nặng về công nghệ cụ thể sang về quy trình công nghệ, hệ thống công nghệ - chuỗi cung ứng - kinh doanh - toàn cầu hóa.

Ta áp dụng công nghệ nhưng chưa chú ý đến các liên kết của nó, nên công nghệ bị tách rời khỏi các điều kiện "sống" của nó. Các công nghệ khác nhau lại cần các liên kết khác nhau. Ví dụ, công nghệ cao đòi hỏi tính liên kết giữa các bên tham gia cao hơn nhiều so với công nghệ truyền thống. Muốn phát triển công nghệ cao thì tính liên kết với bên ngoài phải mạnh hơn, phải gắn chặt vào các chuỗi cung ứng trên thế giới chứ không mấy liên quan đến các suy tính nội địa.

Công nghệ không chỉ để CNH quốc gia, mà nên xem xét tính khả thi của việc đưa nó thành một ngành kinh tế riêng biệt. Lúc đó, ngành kinh tế công nghệ mang tính độc lập nhất định, không nhất thiết (và không nên) mang nhiều liên kết nội địa, mà gắn với thị trường tri thức, nhân công chất xám ở bất cứ đâu mà nó tạo ra giá trị nhiều nhất. Đó là cấu phần với tính hiệu quả cao trong nền Kinh tế tri thức Việt Nam.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.