Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 15/04/2008 00:40 (GMT+7)

Con đường khoa học của nhà ngoại khoa tài năng

Năm 1963, anh thanh niên Tôn Thất Bách tốt nghiệp Trường PTTH Hà Nội 3B, có nguyện vọng học vô tuyến điện, nhưng anh chưa đủ 17 tuổi nên anh vào học ngành y. Mùa hè 1966, đang học năm thứ ba: "Mẹ tôi đưa tôi vào bệnh viện (BV). Tôi đã đi xem, hỏi han, tìm hiểu công việc và tôi bắt đầu  thấy thích. Cuối năm thứ ba đi thực tập ở Sơn Tây - lúc đó đang chiến tranh, có nhiều bệnh nhân bị thương vào BV. Từ đó tôi hiểu, nghề mổ xẻ là nghề cứu được cho con người lúc bị nạn".


Là cháu của GS. Hồ Đắc Di - Hiệu trưởng; là con của GS. Tôn Thất Tùng, Giám đốc BV, Chủ nhiệm Bộ môn ngoại, nhưng anh không ỷ thế gia đình, không sống cách biệt mà chan hòa, cởi mở với bạn bè, chơi bóng đá, bóng rổ, biết đánh đàn piano và sau này sẵn sàng tham gia phục vụ tuyến lửa Khu IV và  thường trực cấp cứu tại BV dã chiến Đồng Lộc, đi thực tế tại Sơn Tây, Hưng Yên, Cao Bằng...


Tháng 9/1969, anh tốt nghiệp bác sĩ y khoa, là cán bộ giảng dạy Bộ môn ngoại của Trường, được rèn luyện, học hỏi từ bố anh, GS. Tôn Thất Tùng, nhà phẫu thuật hàng đầu của ngành ngoại khoa Việt Nam, nhà bác học đã làm rạng rỡ cho nền y học Việt Nam trước quốc tế với công trình khoa học lớn "Phương pháp Cắt gan Tôn Thất Tùng".  PGS. Bách kể: "Từ đây cuộc đời tôi gắn với hai chuyên ngành phẫu thuật tim mạch và phẫu thuật gan mật. Hầu như tất cả thời gian tôi sống ở BV, bận rộn với công việc, vừa ở phòng mổ, vừa ở bệnh phòng, vừa mổ xác và phẫu tích gan ngâm phoóc-môn". "Tôi chuyên đi phụ mổ cho bố tôi... Trong mổ gan, cần người có sức khỏe để dùng valve kéo thành bụng ra thật rộng. Tôi là vận động viên nên tôi rất khỏe vì thế tôi là người có đủ sức để đứng kéo trong vài tiếng đồng hồ mà không được thay đổi tư thế". Chỉ đứng giữ valve, anh vẫn quan sát để học hỏi. Rồi về sau anh được làm những công việc khó hơn với trình độ ngày càng nâng cao.


BS. Tôn Thất Bách được rèn luyện và trưởng thành trong những năm tháng cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất. Công việc hàng ngày của anh là: "Ngày hai buổi đến BV, tối đọc sách. Dạo này mổ tương đối nhiều, có buổi sáng mổ 2 ca thành thử lắm hôm, mãi đến chiều mới về nhà ăn cơm. Một tuần 2-3 buổi chiều vẫn xuống làm ở phòng điện quang, chiều thứ hai học ngoại ngữ đều đặn, chiều thứ bảy lên làm việc tại phòng giải phẫu. Một tuần có một ngày mổ thực nghiệm, vẫn cảnh đứng từ sáng đến chiều, đói meo...".


Khi máy bay Mỹ tăng cường  đánh phá nhiều nơi trên miền Bắc, kể cả thủ đô Hà Nội, các bác sĩ ngoại khoa BV Việt Đức phải làm việc nhiều nhất để cứu chữa cho nhiều người bị thương.


BS. Bách viết ngày 26/2/1970: "Hôm nay làm việc 1 ngày rất mệt, rất căng. Sáng nay mổ 1 ca đến 10h xong. Xuống thư viện đọc sách đến 11h kém 5 phút chuẩn bị về thì một loạt ca chấn thương đến: 14 đứa trẻ ở Yên Phụ nghịch bom bi bị nổ đưa đến bệnh viện. Chỉ còn mỗi anh Đệ trực, thế là mình và anh Đệ ra chọn lọc, phân loại vết thương và chuyển ngay mấy ca nặng nhất vào buồng  mổ đến gần 7h tối mới tạm ổn. Thế là 1 ngày nhịn đói, mệt nhọc…”.


Bác sĩ phẫu thuật phải làm việc nhiều và vất vả trong hoàn cảnh môi trường rất khắc nghiệt: "...Mấy hôm nay trời bắt đầu nóng, chỉ khổ cho những người ngoại khoa đứng hàng tiếng đồng hồ căng thẳng trong chiếc áo blouse dày cộm với những ngọn đèn hàng trăm watt chiếu vào gáy, mồ hôi nhễ nhại".


"Muỗi nhiều vô kể. Lắm hôm trực, mổ buổi tối đứng không yên, vì nó đốt ở dưới chân nhiều quá".


"...Tóc dài gần kín tai mà vẫn chưa xếp hàng cắt được.  Mai lại xuống nhờ ông cắt tóc cho bệnh nhân cắt hộ vậy, đỡ phải xếp hàng".  


Tháng 5 và tháng 6/1972, BS. Bách và một giảng viên của Bộ môn ngoại đưa 2 tổ sinh viên Y6 đến tăng cường cho một BV ở tỉnh Hà Tây. Việc ăn uống của các thầy thuốc rất kham khổ:


"Tôi ăn chung với bếp sinh viên. Bữa cơm 1 suất 5 người có 3 chậu: 1 chậu cơm vàng khè toàn ngô, cứng và rời, một chậu rau muống luộc và 1 chậu nước chấm... Rất thường xuyên và rất ít thay đổi. Mỗi bữa ăn được 3 bát là cảm thấy vừa phải rồi. Sáng thì theo phương pháp chữa bệnh của ông Lý Ban là đổ vào dạ dày một lít nước".


Anh kể về những ngày máy bay Mỹ ném bom B52 tại Hà Nội, tháng 12/1972: "Chúng tôi sống và ăn ở trong BV. BV Việt Đức hoạt động như một  nhà máy. Mỗi ngày, sau một đợt đánh phá của giặc có khoảng ba, bốn trăm bệnh nhân được đưa vào. Những người giỏi nhất làm nhiệm vụ chọn lọc, phân loại bệnh nhân rồi đưa vào một trong 10 bàn mổ đặt dưới hầm trong BV. Vào khoảng các ngày 24-26/12, sau khi máy bay Mỹ ném bom ở Hoài Đức, BV phải nhận hàng trăm trẻ em ở lứa tuổi nhà trẻ. Kíp mổ phải cắt cụt tay, cụt chân cho các cháu 4 - 5 tuổi". Nhìn những đứa bé bị nạn, các phẫu thuật viên vô cùng xót xa, lòng căm thù  tội ác của quân giặc trỗi dậy, đã tạo cho họ cái sức mạnh để chống chọi qua 12 ngày đêm.


PGS. Tôn Thất Bách và các đồng nghiệp sau những giờ phút tập trung cao độ trí tuệ và sức lực giúp bệnh nhân qua cơn hiểm nghèo Công việc của các phẫu thuật viên BV bận rộn bộn bề như vậy,  nhưng công việc khác vẫn phải làm đủ, kể cả việc phải đi lao động đắp đê. Đi lao động về xe đạp lại bị nổ lốp, không có lốp thay, hàng ngày lại phải đi  bộ từ nhà đến BV ít ngày.


Từ ca mổ đầu tiên năm 1966, khi anh cùng tổ sinh viên năm thứ ba Y khoa, đi thực tế tại Sơn Tây bắt buộc phải mổ để cứu một em bé 13 tuổi bị bom bi cắm vào trong sọ sau một trận máy bay Mỹ đánh phá. Ca mổ lớn đầu tiên là năm 1973, anh đã thành công khi mổ cắt một u gan phải bị vỡ. Sau ca mổ này, GS. Tùng nói với bà Hồ: "Bách đã trưởng thành".

 
Cùng với những thành công về phẫu thuật, GS. Tôn Thất Bách đã có một tình yêu đẹp của lớp thanh niên tiến bộ: làm việc hết mình, có tình yêu chung thủy và trong sáng. PGS. Bách kể: "Khi đó tôi là bác sĩ trẻ ở BV Việt Đức, vì suốt ngày sống ở  BV nên chẳng quen ai ngoài sinh viên". Người bạn đời của anh là chị Nguyễn Thị Nga, cũng là sinh viên Y khoa dưới anh 3 lớp.


Ngày 30/12/1972, Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc. Công việc cấp cứu chiến thương của BV và các bác sĩ ngoại khoa  không còn vất vả như trước nữa.  Ngày 4/2/1973,  Bách - Nga đã tổ chức lễ cưới. Một phái đoàn rất hùng hậu của họ nhà trai có ông bà GS. Hồ Đắc Di, ông bà giáo sư Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên, ông bà GS. Tôn Thất Tùng cùng gia đình và họ hàng đi ô tô đến nhà gái đón cô dâu Nguyễn Thị Nga và cả hai gia đình, họ hàng và bạn bè đã chung vui tiệc trà tại căn gác nhà  số 9Lê Thánh Tông.                                                                                                 


BS. Nga đã đảm đang tốt  công việc chuyên môn của BV, là con dâu thảo, người vợ hiền, người mẹ tốt của một gia đình hạnh phúc. Năm 1999, BS. Nga  là Tiến sĩ chuyên ngành huyết học và truyền máu. Tháng 10/2002, TS. Nguyễn Thị Nga đã được Nhà nước công nhận chức danh Phó giáo sư  y học. Đó   là  một niềm vui lớn đối với  PGS. VS.  Tôn Thất Bách.

PGS. Tôn Thất Bách và các đồng nghiệp sau những giờ phút tập trung cao độ trí tuệ và sức lực giúp bệnh nhân qua cơn hiểm nghèo

Xem Thêm

Tin mới

Đắk Lắk: Góp ý Đề án điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Ngày 21/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức họp Hội đồng tư vấn, phản biện và góp ý đối với Đề án điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. TS. Phan Xuân Lĩnh, Chủ tịch Liên hiệp hội, chủ trì cuộc họp.
Lào Cai: Khởi động dự án Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững
Ngày 25/5, tại xã Đông Cuông, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng Yên Bái (YENBAI CDSH) tổ chức hội thảo khởi động dự án “Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững” để giới thiệu các nội dung của Dự án và kế hoạch triển khai năm thứ nhất.
Thanh Hóa: Phản biện đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa
Sáng ngày 22/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội thảo khoa học phản biện “Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đổi mới và tự chủ của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa giai đoạn 2026 - 2030”.
Hải Phòng: Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sáng 21/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp với Hội Nữ trí thức thành phố tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thành phố Hải Phòng trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”.
GS.TSKH Phan Xuân Dũng: "Hãy trao dũng khí để trí thức dám nghĩ, dám làm và đưa đất nước vươn mình"
Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) năm nay mang ý nghĩa đặc biệt khi đất nước đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển, hướng tới khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên số. Trong dòng chảy ấy, vai trò của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ càng được đặt ở vị trí trung tâm, không chỉ với sứ mệnh nghiên cứu mà còn là lực lượng kiến tạo động lực phát triển mới cho quốc gia.