Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 04/12/2006 23:17 (GMT+7)

Con đường hương liệu qua đường Đông Nam Á

Con đường hương liệu (1) đầu tiên xuyên qua vùng Đông Nam Á được thiết lập từ nhiều thế kỷ trước Công nhuyên. Lúc bấy giờ người Malayo - Polynesien ở miền Nam Phi Luật Tân và trong các quần đảo Celebes, Java khai thác các loại gia vị và hương liệu nhiệt đới đem trao đổi với các đồng chủng Austronesien nơi các đảo trong Ấn Độ Dương và Madagacar. Từ đây, dòng nguyên liệu đi theo duyên hải miền đông Châu Phi để đến Ethiopia và các hải cảng trên bờ biển Đỏ.

Đến thế kỷ cuối trước Công nguyên, Ấn Độ nổi lên như một thế lực giao thương đường biển với Trung Hoa qua ngả Đông Nam Á. Con đường này men theo bờ vịnh Bengal, theo duyên hải Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai băng qua eo biển Malscca giữa Mã Lai và Sumatra phía bắc Java, rồi đến Cam Bốt và Việt Nam trước khi đi Quảng Châu, Phúc Châu và Nagasaki. Con đường biển này tỏ ra thuận lợi hơn so với con đường bộ băng qua rừng rậm hiểm nguy hay sa mạc khắc nghiệt nối Trung Hoa với miền bắc Ấn Độ. Kỹ nghệ đóng tàu cũng theo đó phát triển nhanh. Các chuyến đi của tàu buôn thường mất vài năm, một mặt phải chờ cho đến khi thuận chiều gió mùa vốn hoạt động rất mạnh trên Ấn Độ Dương và biển Nam Hải, mặt khác dành thời gian buôn bán trao đổi phẩm vật từ xứ này đến xứ khác. Chính thời gian lưu lại hàng tháng ở mỗi địa điểm nhất định đã tạo cơ hội hình thành một loạt các quốc gia đô thị (2) dọc theo các vùng duyên hải trong các năm đầu Công nguyên.

Khi đế quốc La Mã mở rộng giao thương với người Ấn qua biển Ả Rập thì con đường thương thuyền Ấn - Hoa được nối dài đến Mantai phía bắc Srilanka và Muziris miền nam Ấn Độ, rồi đến các cảng trong vịnh Ba Tư trên bờ Biển Đỏ. Sự nối dài này làm cho giao thương đường biển trở lên nhộn nhịp, các quốc gia trở lên năng động và giàu có nhanh chóng, chủng loại và số lượng hàng hoá lưu thông ngày một lớn hơn. Trong số hàng hoá có tơ lụa, kim loại, các đồ gốm sứ, đá quý, trang sức bằng vàng và thuỷ tinh, các loại hương liệu và gia vị đặc sản, dừa trái. gỗ tếch để đóng tàu, các loại ngọc trai, đồi mồi, ngà voi và sừng tê giác... Một lần nữa, hương liệu vùng Đông Nam Á trở thành đối tượng giao thương toàn cầu. Người ta thường gọi đường biển mới là conđường đinh hương, phân biệt với con đường quế quanbăng qua Ấn Độ Dương. Đúng như câu đã nói “mọi con đường đều dẫn tới La Mã” - Từ đời Hoàng đế Augustus (27tcn – 14scn), số lượng tàu xuất bến chỉ tính mỗi cảng Myos Hormos đã lên tới 120 so với 20 chuyến mỗi năm trước đó.

Trong bối cảnh này, từ thế kỷ thứ nhất quốc gia – đô thị Óc Eo - sử Trung Hoa ghi là vương quốc Phù Nam - nằm trong vịnh Rạch Giá trên bờ biển Việt Nam, đã nổi lên như một trung tâm công nghiệp và thương mại lớn. Khi kỹ nghệ khai thác đá quý và nấu luyện thuỷ tinh ở Arikamedu trên đất Ấn Độ đến hồi suy thoái, thì các kỹ thuật này được người Arikan ở miền Đông Ấn Độ mang đến Óc Eo theo tiến trình Ấn Độ hoá. Từ đây các kỹ thuật khác nhau được biến thể để tạo thành các “thương hiệu” đặc trưng: ngọc Óc Eo, thuỷ tinh Óc Eo, gốm đen Óc Eo, tiền Óc Eo... Ban đầu loại hồng ngọc Hessonite thô khai thác tại An Giang và Lâm Đồng được cung cấp cho các trung tâm chế tác đá quý ở Ấn Độ, có nơi lên đến 3,5% lượng đá sử dụng. Về sau các cẩm thạch Nephrite và các viên ngọc Grossularite đặc trưng Việt Nam này được tìm thấy ở nhiều cảng biển trên con đường hương liệu. Tại cảng Berenike nay thuộc Ai Cập, tỷ lệ thuỷ tinh trang sức kiểu Indo-Pacific từ 4% trước đó, vượt lên 40% trong thế kỷ thứ tư với nhiều loại hạt trong sáng và nhạt màu đặc trưng của Óc Eo.

Sự nổi lên của Óc Eo mà một thời là vương quốc Phù Nam bao trùm nhiều phần đất Việt Nam, Mã Lai, Thái Lan, Lào và Cam Bốt do bởi 3 nguyên nhân : Kiểm soát thị trường hương liệu và gia vị Đông Nam Á, phát triển các ngành công nghiệp đặc hữu và chi phối hệ thống thanh toán tài chánh khu vực. Mặc dù đã có kỹ thuật luyện kim và khai thác chế tác vàng trang sức một cách hoàn hảo, kỹ nghệ đúc tiền Óc Eo vẫn dựa trên căn bản đồng bạc mang tính phổ thông khả dĩ chi phối hệ thống thanh toán. Các đồng vàng La Mã được thấy ở Óc Eo cả trước khi phái đoàn do Hoàng đế Marcus Aurelius cử đến Trung Hoa năm 166. Đổi lại, các đồng bạc Óc Eo được dùng rộng rãi từ Miến Điện đến Phi Luật Tân, các đảo vùng Đông Nam Á và cả ở Hồng Kông. Khi đế quốc Phù Nam suy yếu trong thế kỷ thứ VI theo sau tác động của đợt biển tiến Đông Hải mà đỉnh cao vào khoảng năm 650, thì cá nước Dvaravati, Haripunjaya và Sri Vijaya vẫn sản xuất đồng bạc theo phong cách Phù Nam.

Kỹ nghệ sản xuất thuỷ tinh Óc Eo cũng lan rộng đến Kuala Selinsing và Sungai Mas trên đất Mã, Klong Thom và Takua Pa trên đất Thái và đến Vijaya trên quần đảo Nam Dương. Dòng thuỷ tinh đặc trưng Óc Eo này khác hẳn so với các dòng thuỷ tinh Ấn Độ và Alexandria. Cấu trúc toả tia đặc biệt của hệ thống kinh đào trong vùng Sdachao và kinh đô Ba Thê cho thấy khả năng Óc Eo đã phát triển dịch vụ sửa chữa tàu biển hoặc hình thành kỹ nghệ đóng tàu tại chỗ (3). Sứ thần Trung Hoa đến Phù Nam trong năm 230 đã mô tả con tàu tại đó có chiều dài khoảng 20 bộ (48 mét) nổi cao trên mặt nước từ 2 đến 3 bộ (5 – 7 mét) và có khả năng chuyên chở 600 đến 700 người.

Việc buôn bán hương liệu bắt đầu bằng việc khai thác loại trầm hương, quế, đậu khấu và tiêu sọ bản địa cùng với các loại gỗ đóng tàu, đá quý, đồi mồi, ngà voi và sừng tê giác. Nhưng khi Óc Eo thiết lập được hệ thống thanh toán có giá trị, bằng đồng bạc hoặc đồ trang sức, thì chi phối phần lớn thị trường gia vị và hương liệu phong phú của vùng Đông Nam Á. Các chuyến “tàu chợ” từ Óc Eo sẽ ghé các cảng quế ở miền Trung Việt Nam rồi đến Hải Phòng, ở đó chúng nương theo chiều gió cuối mùa đông để đến vùng biển Phi Luật Tân và các quần đảo Celebes, Borneo hay Java, rồi theo bờ đông Sumatra và Mã Lai để trở về Óc Eo. Tại đây các sản vật khác nhau của “tàu chợ” được đưa lên “tàu hàng” để đi đến các cảng xa xôi ở Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ hay các đế quốc giàu có trong vùng Vịnh và quanh bờ Địa Trung Hải.

Con đường hương liệu đã là một thực tế lịch sử - tuy xa mà gần - gợi lên cho chúng ta nhiều điều suy nghĩ. Trước hết, người Óc Eo có óc thực tế nắm bắt cơ hội. Giao thương là một cơ hội lớn, người thời nay vẫn nói câu “nhất phú thương” là vậy. Thứ hai, người Óc Eo đã hiểu biết thực tại: Việt Nam và Đông Nam Á - xưa cũng như nay - là cái nôi lớn của nhiều loài hương liệu và gia vị. Hương liệu là những sản vật đắt giá mà nhà máy thiên nhiên đã hoàn tất 80%, con người chỉ cần thực hiện 20% còn lại. Thứ ba, người Óc Eo có óc làm chủ đến kinh ngạc. Họ sẵn sàng tiếp nhận các hiểu biết kỹ thuật và rồi biến đổi để trở thành các tri thức công nghệ đặc hữu: Kỹ nghệ sửa chữa và đóng tàu làm cho hải cảng Óc Eo trên bờ biển Việt Nam lúc bấy giờ là một trung tâm dịch vụ tốt nhất trong vùng; kỹ nghệ sản xuất trang sức đá quý và thuỷ tinh tạo ra sự giàu có bảo đảm sự phồn vinh lâu dài của vương quốc; kỹ nghệ đúc tiền giúp họ chi phối thanh toán tài chánh khu vực và nhờ đó kiểm soát phần lớn thị trường hương liệu Đông Nam Á cùng các sản vật quý giá tại đó.

­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­___________________

Chú thích

(1)Nhiều tác giả gọi là con đường gia vị (spice routes) hoặc phân biệt con đường quế quan (cinnamon route) với con đường đinh hương (clove route). Người viết gọi là con đường hương liệu nhằm chỉ hệ thóng giao thương đường biển theo đó nhiều mặt hàng được trao đổi giữa phương Đông và phương Tây, trong đó trầm hương (aloewood) Đông Nam Á được buôn bán chung với nhũ hương (frankincense) và mộc dược (myrrh) Đông Bắc Phi.

(2)Thuật ngữ “quốc gia - đô thị” (state-cities) được dùng để thay thế “vương quốc” do các đặc trưng trong kiến trúc đô thị và cấu trúc xã hội lúc bấy giờ, được trình bày trong Nước Phù Nam – Vương quốc hay Quốc gia - Đô thị (tạp chí Văn hoá Lịch sử, số 13, 12/2004).

(3)Cấu trúc kinh đào toả tia của các đô thị Óc Eo được đề cập chi tiết trong Tìm hiểu đô thị cổ Ba Thê - Óc Eo: mô hình đô thị duyên hải vùng ngập lụt (tạp chí Người Xây Dựng, 10/2004); dấu tích các hoạt động giao thương được trình bày trong “Thương thuyền và hoạt động thương thuyền trong văn hoá Óc Eo” (tạp chí Thất Sơn, số 95, 6/2005), “Đoàn tàu Ba Tư và những người Iran đầu tiên tại Việt Nam” (tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, số 558, 10/2/2006)..

Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, số 256, 3/2006, trang 27 - 28

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.
GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.