Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 19/05/2007 00:30 (GMT+7)

Coi trọng phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

I.Tiềm năng phát triển chăn nuôi

1. Diễn biến đàn gia súc, gia cầm

Trong thời kỳ đổi mới, chăn nuôi gia đình và trang trại ở nông thôn được khuyến khích trong điều kiện lương thực ổn định, có lương thực dự trữ, đã phát triển qua từng năm, năm sau cao hơn năm trước, đã thực sự góp phần đáng kể cải thiện dân sinh.

Trong 10 năm, từ năm 1995 đến 2005 của thời kỳ đổi mới, xu thế chăn nuôi vẫn là chăn nuôi lợn, bò và gia cầm (gà, vịt). So với năm 1995, đàn lợn năm 2005 tăng 1,68 lần (6,8%/năm) và bò 1,52 lần (5,2%/năm). Trâu và ngựa hầu như không phát triển và có chiều hướng giảm sút.

Trong khi đó, bò sữa tăng với tốc độ rất cao 45,7%/năm từ 18,7 nghìn con năm 1995 lên đến 104 nghìn con năm 2005 và đàn dê từ 550 nghìn con lên 1.314 nghìn con. Trong chăn nuôi gia cầm, vịt ngan, ngỗng cũng tăng với tốc độ 8,7%/năm đạt 60 triệu con chiếm trên 27% tổng đàn gia cầm trong cả nước.

Tuy nhiên, bình quân đàn gia súc/người còn quá thấp và mỗi hộ gia đình mới nuôi 2,62 con lợn; 0,80 con trâu bò và 21 con gia cầm (tương ứng với năm 1995 là 1,54; 0,63 và 15 con).

Điều này nói lên tiềm năng chăn nuôi hộ và trang trại ở nông thôn còn rất lớn.

2. Sản phẩm chăn nuôi

Song song với việc tăng số lượng đầu con gia súc, gia cầm, chất lượng giống vật nuôi do nhập nuôi thuần giống ngoại và lai cải tạo giống nội cũng không ngừng được nâng cao, được người chăn nuôi ở mọi vùng đất nước chấp nhận.

Ta đã nhập nhiều giống lợn ngoại: Yorkshire, Landrace, Duroc, Hamshire, Pietrain, lai với các giống lợn nội tạo nhiều cặp lai bố mẹ có ưu thế lai cao, đưa khối lượng xuất chuồng bình quân của lợn nuôi thịt trong cả nước năm 2005 đạt 63-64 kg trong đó các tỉnh phía Bắc, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên đạt 56-58 kg/con, ở Đông Nam bộ 78 kg/con và ở đồng bằng sông Cửu Long đạt 86-87 kg/con.

Ta đã nhập bò sữa Holstein Friesian (hiện chiếm 15,16%) lấy sữa và cho lai với bò cái Lai Sind tạo đàn bò lai hướng sữa (hiện chiếm 84,59%). Từ một nước không có tập quán nuôi bò sữa, nay ta đã có hàng trăm nghìn bò sữa nuôi trong các trang trại và hộ nông dân. Ta cũng đã có bộ giống gà ông bà và bố mẹ lông màu chăn thả, có bộ giống vịt siêu thịt CV Super M1, M2, vịt siêu trứng CV Layer 2000, có giống dê kiêm dụng thịt sữa Bách thảo và giống cừu Phan Rang. Chúng ta cũng đã có một số giống cỏ trồng thâm canh làm thức ăn xanh cho các loại vật nuôi ăn cỏ.

Như vậy, nhân tố giống còn rất lớn. Đây cũng là một tiềm năng ta chưa khai thác hết, đó là chưa kể đến tiềm năng lao động nông nghiệp ở nông thôn.

Năm 2005, sản lượng thịt hơi các loại đạt 2.812 nghìn tấn so với năm 1995 tăng 11,3%/năm, trong đó thịt lợn đạt 2.288 nghìn tấn tăng 12,7%/năm và chiếm tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay, 81,4% tổng lượng thịt các loại. Sản lượng thịt hơi các loại gia súc gia cầm khác về số lượng tuyệt đối có tăng so với năm 1995: thịt trâu bò tăng 7,1% và thịt gia cầm tăng 6,3%/năm, nhưng trong cơ cấu tiêu dùng, thịt trâu bò còn quá ít, khoảng 7%; thịt gia cầm mới được trên 11%; thật chưa tương xứng với tiềm năng sản xuất của 2 loại vật nuôi này. Nếu khai thác hết tiềm năng giống, ta còn có khả năng tăng thịt, trứng, sữa với tốc độ nhanh hơn trong thời gian ngắn cung cấp thực phẩm cho dân sinh tính theo đầu người.

Bình quân thịt hơi/đầu người đã đạt 35,2 kg/năm tăng gần gấp 2 lần so với năm 1995. Bình quân sữa cũng tăng và được gần 2,5 lít sữa/người/năm, điều mà trước đây 10 năm chưa được nổi 0,30 lít/người/năm.

Điều này thể hiện khá rõ nét tiềm năng về khoa học và công nghệ trong đó có những tiến bộ công nghệ về giống vật nuôi như đã đề cập ở trên. Nếu ở tất cả các địa phương thuộc 8 vùng kinh tế và lãnh thổ của đất nước ở đâu cũng phổ biến áp dụng vào sản xuất ở quy mô rộng, chắc chắn trong chăn nuôi ta sẽ có bình quân thực phẩm/đầu người/năm tăng gấp hai lần hiện nay vào năm 2010, không thua kém so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHÍNH

1. Định hướng

Ở nước ta có đủ các loại gia súc, gia cầm: lợn, trâu, bò, ngựa, dê, thỏ, gà, vịt, ngan, ngỗng, đà điểu, bồ câu... Do đó, với nền nông nghiệp sinh thái nhiệt đới, trong cả nước, nơi nào thuận lợi cho loại vật nuôi nào, ta phát triển loại vật nuôi ấy theo quy mô hộ và trang trại nhằm khai thác và sử dụng hết tiềm năng thiên nhiên, đất đai và lao động của mỗi vùng.

Nhưng để nhanh chóng có nhiều thực phẩm cho tiêu dùng xã hội, ta tập trung phát triển chăn nuôi lợn có tỷ lệ nạc cao, chăn nuôi gà theo hướng công nghiệp và gà lông màu chăn thả trong đó có con vịt, chăn nuôi bò sữa và trâu bò thịt, coi đây là hướng ưu tiên trong phát triển chăn nuôi ở nông thôn Việt Nam. Đây không chỉ là hướng ưu tiên mà còn là xu thế tất yếu trong phát triển kinh tế hộ và kinh tế trang trại trong thời kỳ quá độ tiến lên hình thành ngành nông nghiệp hàng hóa ở nông thôn.

Từ chỗ không có bò sữa, nay ta đã có nhân mối phát triển bò sữa. Đó là nhờ có tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, chỉ đạo cương quyết của Chính phủ từ thời còn cố Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng và tâm huyết của các nhà khoa học.

Nuôi bò thịt đơn giản hơn nhiều so với nuôi bò sữa cả về đầu tư và kỹ thuật. Ta cần tiền hành cải tạo giống để chuyển giống trâu bò của ta hiện là giống trâu bò cày kéo thành trâu bò thịt nhằm có bê, nghé, nhất là bê lai nuôi đến 18-24 tháng tuổi đạt 300-400 kg giết thịt cho thịt bò thơm ngon gọi là "thịt đỏ" cung cấp cho tiêu dùng.

2. Một số giải pháp

2.1. Tổ chức lại công tác quản lý giống bằng cách xây dựng và ban hành tiêu chuẩn xếp cấp giống cho một số giống vật nuôi để có căn cứ bình tuyển xếp cấp giống hàng năm và dễ thanh tra kiểm tra chất lượng giống của các cấp quản lý.

Bình tuyển xếp cấp là để xây dựng đàn hạt nhân và quản lý hệ thống giống vật nuôi theo tháp giống 3 cấp:

Trong tháp giống ấy:

- Ở đỉnh tháp là đàn hạt nhân cấp cụ kỵ, là những giống thuần dòng thuần (cả ngoại và nội).

- Ở tầng giữa tháp là đàn hạt nhân giống, cấp ông bà, thường là những giống thuần, nhưng đã có dòng lai để cấp giống cho xây dựng đàn bố mẹ để có con lai có ưu thế lai cao cung cấp cho nuôi thương phẩm.

Trong 5-7 năm trước mắt, ta có thể hình thành hệ giống hình tháp cho lợn và bò sữa. Hệ thống này có thể khép kín trong một doanh nghiệp chăn nuôi hoặc Liên hiệp một số doanh nghiệp chăn nuôi thành hệ thống có nhiệm vụ quản lý đàn hạt nhân và sản xuất giống bố mẹ cung cấp giống cho nông hộ chăn nuôi thương phẩm.

Đàn giống hạt nhân ở các cơ sở giống quốc doanh và tư doanh hợp thành đàn giống hạt nhân quốc gia.

- Bộ có chính sách trợ giá cho đàn giống hạt nhân trong thời gian đầu vì các chi phí nhân giống ở đàn hạt nhân bao giờ cũng cao hơn các đàn khác.

- Như vậy sẽ khuyến khích các doanh nghiệp chăn nuôi tư nhân xây dựng đàn hạt nhân và hệ thống giống hình tháp.

2.2. Xây dựng cơ sở thức ăn vững chắc cho phát triển chăn nuôi ổn định và bền vững.

2.2.1.Trên cơ sở có an ninh lương thực quốc gia, quy hoạch một số vùng sản xuất thức ăn nguyên liệu như bột cá, ngô, lạc, đậu tương. Có thể dành vụ đông cho gieo trồng những cây này. Các xí nghiệp chế biến thức ăn đảm bảo lợi ích cho người sản xuất thức ăn nguyên liệu theo hợp đồng để luôn luôn có nguyên liệu cho sản xuất thức ăn hỗn hợp và thức ăn đậm đặc chất lượng tốt giá thành hạ cho chăn nuôi lợn, gia cầm và một số giống vật nuôi khác.

- 2.2.2. Hợp đồng với nông dân dành diện tích đất trồng cỏ và cây thức ăn để có thức ăn xanh thô cho bò sữa và trâu bò thịt. Thiếu thức ăn xanh thô (chiếm 70-75% trong khẩu phần thức ăn hàng ngày) ta không thể nuôi bò sữa, bò thịt thâm canh có năng suất cao.

Có thể tổ chức các hình thức "chợ cỏ và cây thức ăn xanh" hoặc ký hợp đồng vận chuyển đến tận chuồng nuôi. Ngoài trồng cỏ, có thể hợp đồng trồng thâm canh su hào, cải bắp, bí ngô... để tăng nguồn thức ăn xanh thô nhiều nước cho bò sữa và trâu bò thịt.

3. Tăng cường chăn nuôi quy mô trang trại để có điều kiện cơ giới hóa chăn nuôi ở nông nghiệp nông thôn

3.1. Có chính sách cho thuê đất lâu dài để nông dân có thể mở rộng chăn nuôi theo kiểu trang trại và chính sách cho vay vốn lãi suất thấp để xây dựng cơ sở hạ tầng và chuồng nuôi theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa sản xuất ở nông thôn.

3.2. Về chuồng nuôi: lợn nái sinh sản nuôi trong các chuồng 30-40 cm, gà công nghiệp quy mô lớn nuôitrong các chuồng kín, gà lông màu chăn thả có đủ chuồng nuôi để phân đàn, có vườn cây ăn quả để chăn thả. Với bò sữa, bò thịt nhất là bò sữa cần có chuồng nuôi thông thoáng. Tất cả các loại chuồng nuôi đều phải có trang bị máng ăn, máng uống tự động, riêng với bò sữa có dàn máy vắt sữa tự động.

Xây dựng và trang thiết bị chuồng bị theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa cần có vốn đầu tư ban đầu nhưng tiết kiệm diện tích xây dựng, quản lý vật nuôi dễ dàng, vật nuôi ít bị dịch bệnh và buộc người nuôi có ý thức chọn giống, nuôi giống tốt đạt năng suất cao.

3.3 Trong thiết kế chuồng nuôi lợn, bò sữa và trâu bò cần xây dựng bể khí biogaz để xử lý chất thải chăn nuôi, có khí đốt, có nguồn phân đã xử lý dùng nuôi trồng thủy sản, làm phân bón cho thâm canh cây trồng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở nông thôn.

4. Muốn phát triển chăn nuôi ổn định và bền vững, ngoài các yếu tố giống, thức ăn, phòng bệnh, quản lý... cần có giải pháp giết mổ, chế biến thực phẩm tập trung và giải quyết khâu tiêu thụ sản phẩm cho các hộ nông dân chăn nuôi.

Chỉ trên cơ sở chăn nuôi trang trại mới có thể tổ chức chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở nông thôn. Thành quả của chăn nuôi trang trại và chăn nuôi nông hộ trong vùng là có vùng nguyên liệu cung cấp cho xí nghiệp giết mổ và chế biến thực phẩm do nhà nước chủ yếu là các công ty quốc doanh hoặc tư doanh đảm nhiệm. Đây là hình thức đầu tư và liên kết giữa nhà nước với nông dân.

Ở các thôn xã trong vùng có thể hình thành các tổ hợp chăn nuôi và hợp tác xã dịch vụ chuyên lo sản xuất.

5. Giải pháp phòng bệnh đảm bảo an toàn dịch bệnh cho vật nuôi, và an toàn thực phẩm cho con người là hết sức quan trọng và vô cùng cấp bách trong thời điểm hiện nay

Bốn bệnh gia súc, gia cầm: bệnh dịch tả, bệnh lở mồm long móng, bệnh Niu-cat-xơn và bệnh dịch cúm gia cầm theo quy định của Tổ chức Thú y Thế giới, được xếp vào bảng A của Luật Thú y Quốc tế.

Trong 4 bệnh ấy, 2 bệnh lở mồm long móng và dịch cúm gia cầm, ta chưa có vac-xin tại chỗ để chủ động tiêm phòng định kỳ hàng năm. Khi có dịch xảy ra trong thời buổi kinh tế thị trường và môi trường bị ô nhiễm nặng, dịch bệnh lây lan rất nhanh và gây nhiều thiệt hại cho phát triển chăn nuôi. Dịch lở mồm long móng phát sinh lúc đầu ở lợn sau đó lây lan sang trâu bò, sau đó , chỉ trong một thời gian rất ngắn đã lan ra nhiều tỉnh là một minh chứng. Do đó, cần tiến hành:

5.1. Củng cố thú y cấp huyện và tăng cường cán bộ thú y đến thôn xã;

5.2. Tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến nâng cao nhận thức phòng bệnh vật nuôi cho người chăn nuôi và trong các cộng đồng dân cư. Ngoài những bài viết được đăng tải trên các báo chí ở Trung ương và địa phương, cần khai thác sử dụng triệt để hệ thống truyền thanh của Đài tiếng nói Việt nam hiện có mạng lưới ở các thôn xã trong phạm vi cả nước vào việc này.

5.3. Dịch đã xảy ra cần ngăn chặn không để tái phát. Khác với dịch cúm gia cầm khi mới phát hiện chưa có vac-xin, bệnh lở mồn long móng đã có vac-xin phòng bệnh nhưng phải nhập từ nước ngoài, Vừa rồi ta đã phải nhập của Mỹ, Hà Lan 2 loại vac-xin đơn giá và đa giá. Như vậy ta cần có kế hoạch nhập đủ vac-xin và tiến hành tiêm phòng kịp thời hàng năm nhằm ngăn chặn dịch bệnh tái phát theo nguyên tắc phòng bệnh hơn chữa bệnh.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.