Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 03/08/2011 19:55 (GMT+7)

Coi nhẹ nghiên cứu cơ bản và tùy hứng

Việc nhìn nhận đánh giá một cách đầy đủ, trung thực, khách quan những thành tích đã đạt được trong hoạt động KHCN cũng như xác định những vấn đề mang tính “thắt cổ chai” trong sản xuất đòi hỏi cần đầu tư nghiên cứu để khắc phục trong thời gian tới sẽ giúp cho Vinacomin tiệm cận gần với phát triển theo chiều sâu và nâng cao được hiệu quả của sản xuất kinh doanh.

Những thành tích

Thời gian qua, việc lần đầu tiên ở VN đưa vào áp dụng thành công lò hơi tầng sôi tuần hoàn (CFB) cho một loạt các nhà máy nhiệt điện chạy than đã giúp mỏ Na Dương không phải đóng cửa, tiêu thụ được than Khánh Hòa có hàm lượng lưu huỳnh cao, cho phép tận dụng các loại than chất lượng thấp (nhiệt năng dưới 3000 kcal/kg) để phát điện, đánh dấu một bước phát triển trong lĩnh vực phát điện của VN theo hướng nâng cao hiệu suất nhiệt và giảm thiểu phát thải gây ô nhiễm. Loại lò hơi này trong năm 2009 đã đạt được kỷ lục ở VN về số giờ vận hành liên tục hơn 8000 h/năm và trong 6 tháng đầu năm 2011 cũng đã vận hành liên tục hơn 4000h. Đây là thành tích KHCN nổi trội nhất không chỉ của TKV mà của cả ngành năng lượng VN.

Cùng với lò hơi CFB, lần đầu tiên ở VN đã áp dụng thành công công nghệ làm mát nhà máy điện bằng tháp cưỡng bức trong điều kiện khí hậu nhiệt đới, độ ẩm không khí cao. Công nghệ tháp làm mát đã cho phép xây dựng nhà máy điện ở cả những nơi không có nguồn nước lớn. Công nghệ tháp làm mát trong thực tế đã cho phép tăng gấp đôi công suất thiết kế của các nhiệt điện Na Dương, Cao Ngạn, Sơn Động.

Việc sử dụng rộng rãi kết cấu thép thay cho kết cấu bê tông ở các dự án điện đã góp phần tiết kiệm chi phí đầu tư và rút ngắn đáng kể thời gian thi công.

Thật khó hình dung được ngành điện lực của Vinacomin nếu không áp dụng thành công ba công nghệ đột phá nêu trên trong các dự án nhà máy điện.

Trong khai thác than hầm lò: bên cạnh những bất cập và ấu trĩ trong việc áp dụng cơ giới hóa đồng bộ Vinaalta (giàn chống thủy lực tự hành, kết hợp máy khấu liên hợp) với chi phí rất cao, nhưng hiệu quả rất thấp, thì việc các mỏ hầm lò tự áp dụng rộng rãi sơ đồ công nghệ cơ giới hóa từng phần, áp dụng phương pháp chống lò chợ bằng cột chống thủy lực, khung giá thủy lực đã rất thành công (chi phí thấp, áp dụng rất rộng rãi, dễ triển khai, mang lại hiệu quả cao), và đặc biệt đã góp phần làm giảm tới 75-85% chỉ tiêu tiêu hao gỗ chống lò trong khai thác than.

Trong khai thác lộ thiên: việc đầu tư thiết bị khai thác công suất lớn đã giúp các mỏ đều đạt và vượt công suất thiết kế. Ngoài ra, việc đầu tư thiết bị cho khâu làm đường mỏ tuy đơn giản, ít tốn kém, nhưng đã mang lại hiệu quả cao. Tình trạng kỹ thuật của hệ thống đường vận tải chính trong các mỏ ngày càng được hoàn thiện, đã làm tăng tốc độ vận hành của xe cơ giới, làm tăng năng suất thiết bị. Giải pháp này chiếm tỷ trọng ít nhất 30% trong việc nâng cao năng suất của khâu xúc-bốc-vận tải đất đá và than.

Trong thăm dò địa chất, các năm gần đây đã áp dụng thành công và có hiệu quả lớn công nghệ khoan lấy mẫu bằng ống luồn. Công nghệ này đã cho phép nâng cao tỷ lệ mẫu, giữ được gần như nguyên trạng mẫu, và đặc biệt đã nâng cao đáng kể năng suất khoan (tới hơn 600m/tháng).

Trong thông gió mỏ: việc áp dụng các loại quạt gió công suất lớn (cả quạt cục bộ và quạt gió chính có đường kính cánh quạt lớn) kèm theo hệ thống biến tần, tiêu âm, đổi chiều v.v. phù hợp đã cải thiện đáng kể tình trạng thông gió của mỏ hầm lò và nâng cao hiệu quả của các trạm quạt.

Trong các khâu phụ trợ cũng có nhiều thành tích như: vấn đề băng tải hóa các tuyến vận tải than của các mỏ hầm lò đã được các mỏ áp dụng tương đối rộng rãi và phù hợp; việc áp dụng các biến tần, khởi động mềm, PLC trong các hệ thống truyền động điện đã nâng cao độ ổn định, nâng cao tuổi thọ của thiết bị, giảm tiêu hao điện năng; việc áp dụng tời chở người ở đường lò dốc trong mỏ đang mở ra một hướng phù hợp hơn so với mono ray v.v.

Những hạn chế

Những năm gần đây hoạt động khoa học công nghệ của Vinacomin vừa rất coi nhẹ công tác nghiên cứu cơ bản vừa tùy hứng, và không tuân theo một chương trình dài hạn có mục tiêu.

Có hai lý do: về mặt chủ quan, các cơ quan duy nhất có chức năng “viện” không duy trì được cán bộ nghiên cứu có trình độ; về mặt khách quan, việc triển khai các đề tài nghiên cứu rất mờ nhạt không mang lại lợi ích kinh tế, trong khi việc “năng động” chạy dự án để buôn bán thiết bị hay “liên doanh” với nước ngoài thực hiện các dịch vụ tư vấn đang rất có lãi và được hưởng chênh lệch lớn. Điển hình là việc áp dụng các giàn chống cơ giới hóa Vinaalta đã không mang lại hiệu quả kinh tế như mong muốn, việc đầu tư băng tải ống Mạo Khê đang bị biến tướng để phục cho các nhóm lợi ích.

Ngoài ra việc tự dối mình và tự lừa phỉnh bản thân đã và đang là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trình độ kỹ thuật của ngành khai thác khoáng sản (đặc biệt là lĩnh vực khai thác than hầm lò và tuyển khoáng) của Vinacomin so với thế giới đang dừng lại ở mức độ những năm 50 của thế kỷ trước.

Những vấn đề cần tập trung nghiên cứu trong thời gian tới

Phát triển ngành công nghiệp hóa than nhằm nâng cao giá trị và giá trị sử dụng của than. Với việc phát triển và hoàn thiện các công nghệ trong lĩnh vực hóa than (như CTG, CTL, CTO v.v.) hiện nay thế giới coi than chính là “tương lai” của ngành năng lượng, có thể cạnh tranh và thay thế ngành công nghiệp hóa dầu. Đó là việc cần được ưu tiên hàng đầu.

Việc tự dối mình và tự lừa phỉnh bản thân đã và đang là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trình độ kỹ thuật của ngành khai thác khoáng sản (đặc biệt là lĩnh vực khai thác than hầm lò và tuyển khoáng) của Vinacomin so với thế giới đang dừng lại ở mức độ những năm 50 của thế kỷ trước. Khai thác lộ thiên: Để tăng hệ số bốc đất kinh tế và kéo dài sự tồn tại của các mỏ lộ thiên, cần áp dụng công nghệ vận tải bằng tời trục ở các mỏ lộ thiên và nghiên cứu một cách bài bản về ổn định bờ mỏ để giảm hệ số bốc. Thay vì đầu tư phòng thí nghiệm về than tự cháy, Vinacomin cần khôi phục lại phòng thí nghiệm vật liệu tương đương (đã bị Viện KHCN bán sắt vụn) và nhanh chóng thiết lập phòng thí nghiệm mô hình số hóa để phục vụ cho nghiên cứu ổn định bờ mỏ lộ thiên.

Khai thác hầm lò: Cần thay đổi một cách cơ bản tư duy và cách làm về cơ giới hóa khai thác hầm lò, chấm dứt những dự án đắt tiền kém hiệu quả như Vinaalta, ưu tiên đầu tư theo hướng phù hợp với điều kiện mỏ-địa chất của VN (đối với lò chợ dài- cơ giới hóa từng phần, đối với lò chợ ngắn- cơ giới hóa đồng bộ). Đồng thời cần nghiên cứu một cách cơ bản và có hệ thống về áp lực mỏ. Xem xét lại các sơ đồ chuẩn bị lò chợ đào lò trong đá và đào theo hướng.

Lĩnh vực phát điện: Cần đảm bảo chất lượng ổn định của than cấp cho các nhà máy điện và giải quyết triệt để vấn đề bãi thải xỉ của các nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả và Cao Ngạn. Nếu không giải quyết triệt để, Vinacomin sẽ phải đóng cửa hai nhà máy này chỉ sau vài ba năm nữa.

Lĩnh vực khoáng sản: Nâng cao chất lượng (hàm lượng) của các sản phẩm khoáng sản (chì, ilmenhit- trên 55%; sắt, zirco- trên 65%, alumina- trên 98%) và luyện kim (đồng, thiếc, kẽm, phải đạt 99,99%). Ngoài ra, cần áp dụng đúng các qui chuẩn về thiết kế và vận hành các bãi thải quặng đuôi của các nhà máy tuyển quặng (khác bãi thải đất đá của các mỏ lộ thiên).

Thăm dò địa chất: Cần ưu tiên nghiên cứu áp dụng công nghệ khoan định hướng để tiến tới áp dụng công nghệ khí hóa than ngầm dưới lòng đất trong khai thác than ở đồng bằng sông Hồng.

Phát triển nguồn lực: Cần cập nhật kịp thời thông tin về các tiến bộ KHCN của thế giới cho cán bộ lãnh đạo của tập đoàn; biên soạn các giáo trình tập huấn nâng cao trình độ bắt buộc cho kỹ sư và giám đốc mỏ; hoàn thiện các giáo trình đào tạo thợ.

***

Có thể nói muốn phát triển, tập đoàn Than- Khoáng sản cần chấm dứt chìm đắm trong giấc mơ xuất khẩu than và khoáng sản, sớm thức tỉnh để nâng cao trình độ và tư duy kỹ thuật, đầu tư theo chiều sâu, lấy việc hoàn thiện công nghệ làm con đường phát triển chính để bù đắp cho xuất khẩu khoáng sản.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.