Cơ khí Việt Nam: Thách thức trước “cuộc chơi lớn”
Sự khởi sắc đáng khích lệ
Trong cuộc gặp với Hiệp hội các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam (VAMI) được tổ chức tại Nhà máy nhiệt điện Uông Bí mở rộng vào cuối tháng 7 vừa qua, Tiến sĩ Đỗ Hữu Hào, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp thông báo: Tốc độ tăng trưởng của ngành cơ khí Việt Nam trong 10 năm trở lại đây đạt khoảng 40%/năm và xuất khẩu đạt khoảng một tỷ USD/năm, đó là điều mà không ít người nghĩ ngành Cơ khí có thể đạt được. Đặc biệt, giai đoạn 2001-2005, ngành đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công nghiệp đóng tàu, thiết bị toàn bộ, công nghiệp ôtô - xe máy, chế tạo thiết bị thuỷ công và các ngành sản xuất cơ khí khác.
Sự khởi sắc này còn được minh chứng bằng một con số khá thuyết phục: Nếu như vào đầu thập niên 1990 ngành cơ khí chỉ đáp ứng được từ 8-10% nhu cầu trong nước, thì ở giai đoạn hiện nay, đã đáp ứng được 35% nhu cầu, tốc độ tăng trưởng năm sau đều cao hơn năm trước. Về sản phẩm, trong lĩnh vực nông nghiệp, ngành cơ khí đã sản xuất được các loại máy bơm tiêu úng đến 36.000 mét khối/giờ, các loại thiết bị dùng cho công nghiệp mía đường công suất từ 1.000 đến 8.000 tấn mía cây/ngày, các dây chuyền sản xuất cao su mủ khô đến 6.000 tấn/năm, dây chuyền xay xát gạo công suất đến 50 tấn lúa/ca, các thiết bị cưa xẻ, chế biến gỗ, chế biến chè, các máy canh tác nhỏ cho nông thôn…, góp phần đưa mức cơ giới hóa khâu làm đất nông nghiệp bình quân trên 35% trong cả nước.
Trong lĩnh vực công nghiệp nặng, ngành cơ khí chế tạo thành công máy công cụ đã số hoá (CNC), các máy tiện vạn năng cỡ vừa và lớn, sản xuất các máy cắt thép theo chương trình tự động, chế tạo thành công máy động lực có thể sản xuất tới 30.000 chiếc/năm (đáp ứng khoảng 30% nhu cầu thị trường trong nước). Các lĩnh vực khác như cơ khí phục vụ thi công công trình giao thông, xây dựng, năng lượng mỏ, thiết bị và vật liệu điện, xe đạp, quạt điện… đều có bước khởi sắc đáng kể.
Đặc biệt, ngành cơ khí đóng tàu biển đã có bước phát triển nhảy vọt, đó là khả năng đóng mới tàu 53.000 tấn lớn nhất từ trước đến nay tại Việt Nam, sửa chữa được các loại tàu biển 200.000 tấn. Trên thực tế, Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (VINASHIN) đã đóng thành công loại tàu chở hàng 6.500 tấn với chất lượng được đăng kiểm quốc tế công nhận; đóng thành công và đưa vào khai thác tàu hàng 11.500 đến 12.500 tấn, lắp ráp hạ thủy thành công tàu con-ten-nơ 1.016 TEU, tàu chở dầu 13.500 tấn, đóng và khai thác ụ nổi 8.500 tấn, v.v..
Sẽ là chưa toàn diện nếu không nhắc đến sự kiện quan trọng, đó là lần đầu tiên Tổng công ty lắp máy Việt Nam (LILAMA) đảm nhiệm vai trò làm tổng thầu chế tạo và cung cấp thiết bị toàn bộ cho các dự án đầu tư như Công trình nhà máy Nhiệt điện Uông Bí mở rộng công suất 300MW (vốn đầu tư 300 triệu USD), dây chuyền 2 - Nhà máy xi măng Hoàng Thạch - công suất 1,4 triệu tấn/năm (vốn đầu tư 100 triệu USD), hai gói thầu của Nhà máy lọc dầu Dung Quất (trị giá gần 230 triệu USD).
Đề cập đến ý nghĩa của sự kiện này, kỹ sư Phạm Hùng, Anh hùng lao động, Tổng giám đốc LILAMA khẳng định: Đã đến lúc chúng ta phải mạnh dạn làm tổng thầu trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và cung cấp thiết bị toàn bộ cho các dự án lớn, chứ không thể tự ti chấp nhận làm thuê cho các công ty xuyên quốc gia. Cơ chế tổng thầu (EPC) là một hướng phát triển mới, tạo động lực để xây dựng được những tập đoàn công nghiệp nặng, có đủ năng lực tham gia đấu thầu các dự án có giá trị kinh tế cao trong nước và thế giới, sẵn sang cho hội nhập quốc tế.
Đích đến 2010: Đáp ứng 45-50% nhu cầu sản phẩm cơ khí trong nước?
Phân tích về vấn đề thị trường cơ khí, ông Ngô Văn Trụ - Vụ cơ khí luyện kim và hóa chất (Bộ Công nghiệp) cho biết: Xét về khía cạnh thương mại thì các nước ASEAN tương đồng như ta về cơ cấu tài nguyên, nhưng họ có điều kiện vốn và công nghệ, do đó khả năng cạnh tranh sẽ hơn ta. Các nước ASEAN cũng có chiến lược hướng đến xuất khẩu sớm. Hiện nay, việc buôn bán giữa các nước ASEAN đã tăng lên. Trong giai đoạn 2000-2005 tỷ trọng buôn bán giữa các nước thành viên đã chiếm 35% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, trong đó các mặt hàng thuộc CEPT (danh mục cắt giảm thuế quan chung AFTA) chiếm tỷ trọng lớn hơn kim ngạch buôn bán. Nếu ngành công nghiệp cơ khí không nhanh chóng tăng sức cạnh tranh thì các nước ASEAN sẽ lợi dụng CEPT để chiếm lấy thị phần lớn hơn ở ViệtNam.
Được biết, mục tiêu của ngành cơ khí từ nay đến năm 2010 là đáp ứng được từ 45% đến 50% nhu cầu sản phẩm trong nước, trong đó xuất khẩu đạt 30% giá trị sản lượng. Theo các chuyên gia cơ khí, nếu không có một chương trình tổng thể với những nội dung và lộ trình hợp lý thì khó có thể đạt được mục tiêu này. Vì vậy, ngành cơ khí cần tập trung vào đầu tư chiều sâu, đổi mới và tiếp thu công nghệ tiên tiến, thực hiện phương châm “đi tắt đón đầu”, tạo ra sản phẩm mới, chất lượng cao; đồng thời phát triển mạnh công nghiệp phụ trợ; tập trung vào các sản phẩm cơ khí trọng điểm, tức là các nhóm hàng có khả năng cạnh tranh cao nhằm chuyển dịch cơ cấu sản phẩm sản xuất và xuất khẩu, chú trọng liên doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp cơ khí, đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công tác quản lý ở tất cả các doanh nghiệp.
Nỗi lo khi cửa WTO mở
Có một thực tế là, hiện nay phần lớn các doanh nghiệp cơ khí trong nước sản xuất theo quy trình công nghệ khép kín, thiếu những nhà máy hiện đại, chủ lực để làm trung tâm cho việc chuyên môn hoá, hợp tác hoá; công nghệ chế tạo cơ khí nội địa, về tổng thể, là công nghệ giản đơn, lạc hậu so với các nước trong khu vực. Do điểm xuất phát thấp, có giai đoạn bị thả nổi, đầu tư ít, nên khi bước vào hội nhập ngành cơ khí vừa mừng, vừa lo cũng là điều dễ hiểu.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Chuẩn - Chủ tịch Hội Khoa học kỹ thuật cơ khí ViệtNamcho rằng: khi hội nhập WTO, ngành cơ khí sẽ gặp nhiều khó khăn. Đó là mọi bảo hộ và thuế bị dỡ bỏ, chỉ còn lại các rào cản kỹ thuật. Nhưng đến nay chúng ta lại chưa có các rào cản kỹ thuật hợp pháp đủ mạnh, đủ hiệu lực để bảo vệ các sản phẩm cơ khí trọng điểm, chưa có đầy đủ các phương tiện để kiểm định sự hợp tiêu chuẩn với các sản phẩm cơ khí, nhiều sản phẩm không đạt tiêu chuẩn vẫn được lưu thông trên thị trường, hàng lậu, hàng giả hoành hành. Ngành cơ khí còn thiếu nhiều hiệp hội chuyên ngành để tập hợp, phối hợp lực lượng phân công chuyên môn hoá, hợp tác hóa làm tăng sức mạnh cạnh tranh. Mặt khác, năng lực marketing của nhiều doanh nghiệp còn yếu, mới chỉ biết làm ra sản phẩm, còn làm tiếp thị bán sản phẩm thì phụ thuộc rất nhiều vào bạn hàng “truyền thống”. Năng lực tư vấn và thiết kế của ngành cơ khí còn thấp, vì vậy, chúng ta phải thuê tư vấn, mua thiết kế của nước ngoài để làm các công trình và sản phẩm quan trọng. Một thách thức không thể không nhắc đến, đó là chất lượng lao động trong ngành cơ khí còn nhiều hạn chế. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có 19% số lao động được đào tạo, số lao động có trình độ đại học và cao hơn chỉ chiếm 15%, vì vậy, ngành cơ khí Việt Nam cần nhiều thời gian và nỗ lực mới có thể khắc phục được áp lực cạnh tranh khi hội nhập quốc tế.
Có thể khẳng định rằng, trong thời điểm hiện tại, năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí ViệtNamlà chưa cao. Bài toán đang cần lời giải đúng: Khi cánh cửa WTO rộng mở, các hàng rào bảo hộ bị bãi bỏ, ngành cơ khí sẽ phải phát huy năng lực nội sinh như thế nào để vượt qua thách thức?
Nguồn: QĐND, ngày4/8/2006








