Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 22/06/2010 23:14 (GMT+7)

Chương trình và sách giáo khoa trong Luật giáo dục

Phóng viên(PV). Sau khi Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD-ĐT) dự kiến sửa đổi Luật GD, có phần liên quan tới chương trình và sách giáo khoa (CT-SGK), trên công luận hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau. Là người nghiên cứu vấn đề này từ nhiều năm nay, Gíáo sư suy nghĩ thế nào về điều đó?

GS. Nguyễn Xuân Hãn(NXH). Xin khẳng định không có gì mới, xin nhắc lại kiến nghị của Bộ GD-ĐT “Một chương trình giáo dục phổ thông trong tương lai có thể có 2-3 bộ SGK được phát hành cùng một lúc, do Bộ trưởng duyệt và quyết định, và giám đốc sở GD-ĐT ở mỗi địa phương có thể quyết định chọn một trong những bộ SGK đó để sử dụng ở địa phương mình” để sửa điều 25 của Luật GD năm 1998, (Báo Lao Động số 135/2005 (6824) ngày 17/5/2005) trình Quốc hội, nhưng nó đã bị bác bỏ khi thông qua Luật GD năm 2005. Còn ý kiến bàn trên công luận rất nhiều, nhưng chưa làm rõ bản chất khoa học của CT-SGK và còn xa với thực tiễn dạy và học hiện nay.

PV. Vậy theo Giáo sư bản chất khoa học của vấn đề, theo khoa học được hiểu như thế nào?

NXH. Chương trình là cốt lõi của nền học, SGK là tài liệu mang tính pháp lý trong dạy và học. Qua nghiên cứu, xin khẳng định suốt 28 năm qua ta chưa hề có chương trình giáo dục chính thức của Nhà nước, mỗi chương trình đều nhiều sách tương tự, nhưng không hề chọn được bất cứ một bộ SGK chuẩn với đúng nghĩa khoa học.

Chương trình phải được quan niệm như một chỉnh thể xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12, nhưng khi thực hiện ta chia nó thành 3 khúc: Tiểu học, THCS và THPT. Khúc Tiểu học ta thiết kế 4 chương trình khác nhau chương trình 165 tuần, 120 tuần, 100 tuần và Chương trình công nghệ GD, việc chỉnh sửa và hợp nhất liên miên sau đó mãi đến năm 2002 ta gộp thành một chương trình Tiểu học. Một khúc chương trình THPT năm 1993 được chia tách thành 3 Ban, Ban A (khoa học tự nhiên), Ban B (khoa học tự nhiên—kỹ thuật) và Ban C (khoa học xã hội), đến năm 1998 phân Ban đã bị xóa khi thông qua Luật GD, năm 2002 khúc chương trình THPT này lại phân thành 2 Ban – Ban Tự nhiên (A), Ban xã hội (C); khi triển khai gặp sự cố vì xuất hiện Ban “không vào Ban A, và cũng không vào Ban C ) vào năm 2003, thường vụ QH đồng ý với tờ trình Chính phủ cho việc dừng triển khai phân Ban lại hai năm để nghiên cứu lại (Báo Thanh Niên số 360(2925) ngày 26-12-2003). Đến 2005 lại có 5 Ban, Ban tự nhiên A, Ban xã hội C và Ban cơ Bản (CB), Ban cơ Bản hướng –khoa học tự nhiên (CBA); Ban cơ bản hướng khoa học xã hội (CBC), nhưng cũng không được xã hội hội chấp nhận.(!?) Chưa bàn đến vấn đề thi cử, chương trình giáo dục chính thức với nghĩa hẹp từ ngày đổi mới đến nay, rõ ràng chưa thiết kế được. Vậy mệnh đề một chương trình mấy bộ SGK rõ ràng thiếu điểm tựa xuất phát?

Về SGK, cuối những năm tám mươi của thế kỷ trước, một chương trình ta chỉ đạo biên soan 3 bộ SGK toán, và 2 bộ SGK văn khác nhau cho hai miền của một đất nước thống nhất, khi vận dụng vào thực tế dẫn đến sự rối loạn trong dạy và học. Vào cuối những năm chín mươi thế kỷ trước ta lại phải hợp nhất các bộ SGK trên thành một bộ SGK thống nhất theo từng môn về môn toán và môn văn. Đến năm 2002 ta lại chỉ đạo một chương trình viết hai bộ SGK về các môn Toán, Lý Hóa, Sinh và Ngữ Văn (Văn và Tiếng Việt)! Đến năm 2005, thay đổi thiết kế phân Ban, và biên soạn nhiều loại sách cho 5 Ban kể trên. Chưa kể những SGK bắt buộc học sinh phải mua, ta lại biên soạn nhiều sách tham khảo.Theo số liệu điều tra ở Cty phát hành sach Hà Nội năm 2008, có 3120 sách tham khảo cho tất cả HS phổ thông, cụ thể Lớp 1 có 59 cuốn, lớp 2 (85c); Lớp 3 (109c); Lớp 4 (147c); Lớp 5 (180c); Lớp 6 (202c); Lớp7 (199c); Lớp 8 (288c); Lớp 9 (357c); Lớp 10 (394c); Lớp 11 (442c); Lớp 12 (148c) vân vân.

Một quyển sách chuẩn mực hay một bộ sách từ lớp 1 đến lớp 12, các kiến thức phải được chỉ đạo “theo một tư duy khoa học nhất quán và thống nhất” và có sự hài hòa giữa các môn học. Việc chỉ đạo biên soạn sách của nước ta “chẳng giống ai”. Nhiều tác giả đã bức xúc cảnh báo: Nếu cứ phải “quay lưng vào nhau” để biên soạn các bộ SGK khác nhau, khi chưa nhận thức rõ đâu là chuẩn mực về mặt học thuật, thì sự rắc rối cho việc dạy và học, cứ thế này thì là một mối lo

So với các nước chương trình giáo dục của ta quá nặng, nhiều nội dung trong SGK nặng hơn từ 1 đến 3 năm, cách trình bầy không liền mạch, ngôn ngữ sử dụng trừu tượng xa cuộc sống, khó học khó nhớ. HS phải học thêm từ lớp 1, làm các em mất tuổi thơ. Sô tiền học thêm rất lớn, theo số liệu điều tra của Việt nam với tổ chức quốc tế khoảng 300 triệu USD/năm

PV. Chuyện sách giáo dục, ngoài chính thức còn có tham khảo vân vân

NXH. Chưa kể sách ngoài luồng, năm 2001 theo thống kê chính thức của Cục xuất bản cả nước xuất bản, năm 2001 cả nước phát hành 237,760 triệu bản, 2004 – 242,7 triệu bản, 2005-276,447 triệu bản, 2008 – 279, 913 triệu bản, trong đó sách của NXBGD chiếm khoảng 80%. Tỷ lệ (sách và giáo trình đại học và sách phổ thông) xấp xỉ chưa đến 1% . Tỷ lệ này kéo dài hàng chục năm nay. Ở bậc phổ thông “bội thực về sách”, còn ở bậc đại học “đói sách”. Bất chấp “sự bội thực sách” này, người ta lại bàn làm sao để ”tăng thêm” nhiều sách, còn chỗ ”thiếu” ơ bậc đại học, hầu như không được đặt ra để khắc phục trong hơn 20 năm đổi mới.

Hiện nay trong toàn quốc có 55 NXB, và 6200 doanh nghiệp và cơ sở in ấn của Nhà nước và tư nhân, với doanh thu 1 tỷ USD/năm, với tốc độ tăng doanh thu trung bình 100 triệu USD đến 150 triệu ÚSD/năm. Riêng giấy in sách giáo dục cần khoảng 2 triệu tấn/năm, trong nước chỉ cung cấp được 40% còn lại 60% phải nhập ngoại.Tính riêng môn Tiếng Việt lớp 1, từ năm 2002 đến 2008, NXBGD đã thu của dân khoảng 230 tỷ đồng/môn, xấp xỉ 14 triệu USD/môn, mà không phải đầu tư gì nhiều. Ở bậc phổ thông có khoảng 200 tựa sách như vây.

Học sinh ở nhiều nước, đặc biệt là những nước giầu có được cung cấp miễn phí SGK chuẩn mực và chất lượng. Việt Nam còn nghèo người dân năm nào cũng phải bỏ hàng trăm triệu USD mua sách học thiếu chuẩn mực cho con. Trong khi đó cơ quan có trách nhiệm, rất tiếc không thấy bàn đến việc làm sao chương trình và SGK chuẩn mực để ổn định giáo dục, mà năm nào cũng bàn giảm tải, giảm sai, tăng giá sách hay sửa luật GD để tăng lượng in ấn và bán được nhiều sách?.

PV. Tại sao cho đến nay theo Giáo sư ta không làm được CT-SGK chuẩn?

NXH. Nguyên nhân thì có nhiều, xin hệ thống lại một số

- Chuẩn kiến thức - rất quan trọng, nó được ví như cái thước tre, mà người nông dân sử dụng để đo dạc khi xây nhà, theo ông Trần Kiều - nguyên Viện trưởng Viện KHGD thừa nhận là chưa tìm được để thiết kế CT-SGK chuẩn ở nước ta mấy chục năm qua. Xây một ngôi nhà mà không có thước tre, thì nó méo mó lệch lạc như thế nào ai cũng có thể hình dung được! Năm 2002 ta tiến hành đổi mới chương trình và thay SGK ở bậc phổ thông. Nếu chương trình giáo dục người ta bắt đầu từ chữ cái theo A, B, C,…thì ở ta bắt đầu từ chữ E!

Trên thế giới tồn tại một chuẩn mực chung chương trình giáo dục cấp quốc tế, đặc biệt là GD phổ thông với cùng một trình độ, để HS từ nước này sang nước khác học được, sự khác nhau về chương trình nếu có cũng dễ dàng được giải quyết. Khoa học không có biên giới, chỉ có nhà khoa học là có quốc tịch. Làm CT-SGK chuẩn là một công trình khoa học lớn của quốc gia. Hiện nay trên thế giới nước nào cũng có CT-SGK chuẩn của riêng mình, bất kể nước đó là nước tiên tiến như Anh, Đức, Mỹ, Nga, và Pháp, mà kể cả những nước còn khó khăn hơn ta ở các nước châu Á, Phi và Mỹ La Tinh cũng làm được. Ngày 28-10 -2008, tại một cuộc họp quốc gia về GD, đã có câu hỏi cho người có trách nhiệm nhất về GD hiện nay, vậy các nước, kể cả nước lạc hâu hơn ta, đã làm CT-SGK chuẩn mực như thế nào và họ làm được, còn ở nước ta đã 27 năm qua chưa hề có CT-SGK chuẩn? Câu trả lời, rất tiếc tìm mãi vẫn chưa ra!

GD là quốc sách hàng đầu, GD nước ta đã được vay tiền từ nhiều ngân hàng nước ngoài, trung bình 100 triệu USD/năm kể từ năm 1993 đến nay. Vay tiền nước ngoài thì người nước ngoài tham gia chỉ đạo biên soạn và thẩm định CT-SGK, kể cả ca dao tục ngữ nước ta! (Ví dụ như 10329/VP do Thứ trưởng Bộ GD-ĐT ký ngày 10/11/2000 mời tác giả VN đến tập huấn biên soạn). Một chỉnh thể khoa học, lại sử dụng cách tiếp cận tiểu nông (cắt khúc cuốn chiếu, vừa chạy vừa xếp hàng) cùng với đồng tiền vay và chỉ đạo từ bên ngoài, thì những sai sót mà mà ta phải chỉnh sửa triền miên là khó có thể tránh khỏi.

Việc học sinh bỏ học đang là một vấn nạn, có nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân quan trọng: thiếu CT-SGK chuẩn, phù hợp với nước ta. Theo số liệu tháng 10-2008 của Vụ kế hoạch tài chính (Bộ GD-ĐT), tỷ lệ trẻ bỏ học là 230 nghìn em (chiếm 1,37%), nhưng theo các chuyên gia thì khoảng 1 triệu em (6%) (Kinh tế Nông Thôn, 10-12-2008) . Theo báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc) thì gần 2 triệu (12%) trẻ em không đến trường, bỏ học hay không học hết câp!

PV. Vậy ý kiến của GS về CT-SGK ở bậc phổ thông?

NXH.Việc dự kiến sửa đổi và bổ sung khoản 3 Điều 29 của Luật GD của Bộ GD-ĐT, qua phân tích kể trên là không có cơ sở thực tế và không đúng với tư duy khoa học. Hiện có ý kiến cho rằng nên để nhiều người biên soạn sách, tương tự như phong trào “Toàn dân đúc thép vào những năm mươi của thế kỷ trước ở nước ngoài” . Kết quả ai cũng biết, người ta chỉ thu được gang, chứ không có thép.Tư duy khoa học, xin lưu ý không phải nhiều tiền hay đông người là thay thế được.

Theo Điều 36 của Hiến pháp, Điều 100 của Luật GD năm 2005, về CT giáo dục và SGK, người chịu trách nhiệm trước QH và nhân dân là Chính phủ, cụ thể là Thủ tướng. Để giải quyết tận gốc vấn đề ta cần sớm có CT-SGK chuẩn, nếu phát huy nội lực loại bỏ tư tưởng sính ngoại. Giải pháp mới cho CT-SGK chuẩn phù hợp với VN, hội nhập với thế giới theo các chuẩn mực quốc tế sẽ hoàn thành trong vòng 1 năm, với kinh phí 100 tỷ đồng, để có thể thay đồng loạt CT-SGK mới từ lớp 1 đến lớp 12 trong thời gian tới đã được những nhà khoa học nước ta khẳng định.Tính hiệu quả và thực tế của giải pháp này, xin lưu ý đến nay, không còn bất cứ phản bác nào, kể cả lãnh đạo Bộ GD-ĐT. Chế tài sử dụng SGK chuẩn, ít nhất 10 năm hoặc lâu hơn mới được in lại một lần, sẽ sớm được Quốc hội thông qua. Việc cung cấp miễn phí SGK cho học sinh như các nước, sẽ hoàn toàn khả thi.Kéo dài cách làm lạc hậu hiện nay, thật bất lợi cho sự nghiệp trồng người, và gây thiệt hại lớc cho dân.

Vấn đề còn lại là con người và tổ chức, người chúng ta thông thiếu, miễn là biết tựa chọn và dùng.

PV:Xin cảm ơn Giáo sư!

Chú thích và bổ sung:

1/ Tại các nước tiên tiến, không Ai thấy SGK phổ thông ở cửa hàng sách, còn ở nước ta hoàn toàn ngược lại, trần ngập đủ loại sách SGK và sách tham khảo… Việc cung cấp SGK miễn phí ở các nước này, liệu có phải năm nào họ cũng in lại như nước ta? Nhưng thông tin này rất tiếc không bao giờ được trình bày và bàn bạc tại Quốc hội? Tại sao?

2/ Có ý kiến cho rằng làm một chương trình giáo dục cho HS miền núi, một chương trình khác cho HS thành phố. Thật vô lý. Vậy chương trình giáo dục của các nước khó khăn ở châu Á, Phi, Mỹ La Tinh sẽ tương đương với trình độ giáo dục nào ở miền núi hay thành phố nào của Việt Nam, để sau khi tốt nghiệp phổ thông, họ cùng vào các nước tiên tiến cùng học một trường Đại học? (Báo Nông thôn ngày này, ngày 5-5-2008).

3/ Một câu hỏi đã được đặt ra cho một chuyên gia biên soạn sách tại Hội thảo về giảng dạy Vật lý ngày 21-1-2010. “Ai là người chỉ đạo biên soạn SGK hiện nay?” Ông “ Washington ” chứ còn Ai, nhưng không phải là người Mỹ!. Trả lời: Phải chăng nghĩa đen của câu nói này ở chỗ: một chương trình thống nhất từ lớp 1 đến lớp 12, nhưng lại chia làm 3 khúc, Tiểu học, THCS và THPT, làm 3 dự án, vay 3 ngân hàng nước ngoài khác nhau. Vay tiền là dịp người nước ngoài vào chỉ đạo. Mỗi ngân hàng lại chỉ đạo một cách riêng. Việc CT-SGK không chuẩn là điều thật dễ hiểu?

4/ Bộ GD-ĐT đã huy động 2 vạn trong số 3 vạn rưởi trường học trong toàn quốc để đánh giá CT-SGK mới, nhưng vẫn chưa xong. Tại sao? Đánh giá theo khoa học là “ĐO”, muốn vậy, phải có “thước đo” - thước tre làm chuẩn. Ông Trần Kiều thừa nhận chưa tìm được thước tre. Vậy cách đánh giá CT-SGK của Bộ làm sao được gọi là cách làm khoa học. Nếu am hiểu khoa học và cách làm trong và ngoài nước, việc đánh giá CT-SGK có thể hoàn tất trong 10 ngày. (Báo Lao Động, số 89, ngày 24/4/2008, Vật lý này nay, số 4, tháng 8/2008 trang 18 – 19).

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.