Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 25/04/2011 19:57 (GMT+7)

Chương trình 68 đã mang lại lợi ích cho nhiều doanh nghiệp

Tia Sáng đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quân về những nguyên nhân và giải pháp khắc phục những hạn chế trên trong giai đoạn tiếp theo của Chương trình.

Theo ông cho đến nay xã hội và Nhà nước ta đã quan tâm tới vấn đề Sở hữu trí tuệ (SHTT) như thế nào?

SHTT là một câu chuyện rất mới đối với Việt Nam . Trước khi chúng ta gia nhập WTO, không chỉ người dân mà ngay cả các nhà khoa học, các doanh nghiệp Việt Nam cũng không mấy quan tâm đến (SHTT) vì cho rằng SHTT chỉ thiết thực ở những nước có nền công nghiệp phát triển. Nhưng khi chúng ta bắt đầu đàm phán để gia nhập WTO, để đáp ứng điều kiện tiên quyết mà các nước thành viên WTO (đặc biệt là Hoa Kỳ) đặt ra trước khi chấp nhận một nước thành viên mới là vấn đề tôn trọng quyền SHTT, Việt Nam đã bắt tay vào việc xây dựng Luật SHTT. Sau một thời gian rất ngắn, năm 2005, Luật được ban hành và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một đạo Luật vừa mang tính khoa học vừa có nhiều qui định tiến bộ. Lần đầu tiên, luật pháp Việt Nam chính thức công nhận trí tuệ là tài sản, và Nhà nước phải bảo hộ tài sản trí tuệ của mọi tổ chức cá nhân, trong đó có doanh nghiệp.

Chính sự ra đời của Luật SHTT là một trong những nhân tố quan trọng tạo ra sự bùng nổ về số lượng các hồ sơ đăng ký xin bảo hộ quyền SHTT, đặc biệt là ở khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, với số lượng đơn xin đăng ký sáng chế của nước ngoài gấp khoảng 10 đến 20 lần so với đơn của người Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước tuy số lượng đơn đăng ký còn ít so với nước ngoài, nhưng số lượng ngày càng tăng với tốc độ rất nhanh. Nếu trước năm 2000, hằng năm chúng ta chỉ cấp được vài bằng sáng chế, thì hiện nay con số đã lên tới hàng trăm. Còn việc cấp chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa, thì hiện nay Cục SHTT đang bị quá tải với khối lượng khoảng 30.000 đơn/năm, không đáp ứng kịp nhu cầu của doanh nghiệp.

Do SHTT có vai trò quan trọng như vậy nên Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt cho Bộ KH&CN thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp giai đoạn 2005-2010.

Vì sao trước đây Chương trình lại chỉ giới hạn trong việc hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ của doanh nghiệp? 

Hầu hết các doanh nghiệp trong thời kỳ này chưa có khái niệm và ít quan tâm đến quyền SHTT, đặc biệt là bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và thương hiệu, điều đó ảnh hưởng nhiều đến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước với nhau và với doanh nghiệp nước ngoài. Chính vì thế, Chương trình đã đặt trọng tâm vào việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp.

Có thể nói qua 5 năm thực hiện, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã được hưởng lợi từ thành quả của chương trình 68. Chính vì vậy, vừa qua Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình 5 năm 2011-2015, trong đó đối tượng của Chương trình không chỉ là các doanh nghiệp như giai đoạn trước đây mà sẽ bao gồm mọi thành phần trong xã hội.  

Xin ông cho biết một số kết quả chính đã đạt được của chương trình 68?

Do nguồn lực và kinh nghiệm có hạn, nên Ban điều hành Chương trình 68 mới triển khai được 2 nội dung chính:

1. Nâng cao nhận thức xã hội, doanh nghiệp về SHTT như đã hợp đồng với các cơ quan truyền thông, nhất là đài truyền hình Trung ương và địa phương, đã xây dựng chương trình Chắp cánh thương hiệu trên VTV3 và những chuyên mục về SHTT trên các tờ báo lớn, báo điện tử. Tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nghiệp vụ cán bộ phụ trách về SHTT ở các Sở Khoa học và Công nghệ, bước đầu đưa chương trình đào tạo về SHTT vào các trường đại học và cao đẳng.

2. Hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa và chỉ dẫn địa lý. Về việc này, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng kể. Ví dụ, tại Hội nghị về chỉ dẫn địa lý các nước ASEAN năm 2009, Việt Nam được đánh giá là quốc gia dẫn đầu với 12 sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý, dù chúng ta là nước đi sau trong lĩnh vực này. Tới nay Việt Nam đã có 19 sản phẩm đặc sản của các địa phương được hướng dẫn làm hồ sơ và cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể, đóng góp lớn cho sản xuất hàng hóa và xuất khẩu của địa phương. Ví dụ như thanh long Bình Thuận được thị trường Mỹ chấp nhận. Vải thiều Lục Ngạn, những năm trước tới mùa thu hoạch, nông dân phải bán đổ bán tháo vì Trung Quốc hạn chế nhập khẩu do chưa có xuất xứ hàng hóa, gần đây sau khi có văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, vải thiều Lục Ngạn đã xuất khẩu được khối lượng lớn, giá tăng 30-40% so với trước đây. Hoặc như khi chúng ta đã có bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho cam Vinh, giá sản phẩm cam Vinh trên thị trường đã tăng 25-30%.

Với bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, có thể nói sau 5 năm triển khai chương trình, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhận thức về sự cần thiết đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Hằng năm, số đơn xin đăng ký và số văn bằng được cấp tăng đều với tốc độ khoảng 20%.

Theo đánh giá của ông, hai nội dung là thực thi quyền và thương mại hóa tài sản trí tuệ hầu như chưa triển khai được trong thực tế. Vì sao?

Đối với thực thi quyền SHTT, Việt Nam hiện đã có Luật SHTT nhưng luật này vẫn chưa hoàn toàn đồng bộ với các luật khác, nhất là Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật Hình sự. Ngoài ra Việt Nam còn thiếu các văn bản dưới luật và thiếu các chế tài để xử lý vi phạm. Năm 2009 chúng ta đã trình sửa đổi bổ sung một số điều trong Bộ Luật Hình sự, nhờ đó đối với những vụ vi phạm quyền SHTT gây thiệt hại kinh tế quy mô lớn chúng ta đã có thể xử lý được bằng các biện pháp hình sự cần thiết. Đây là điều được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Một khó khăn lớn khác là những người làm việc tại các tòa án, viện kiểm sát, cơ quan điều tra,…hầu như chưa được đào tạo về lĩnh vực SHTT. Hệ thống giám định1 về SHTT của chúng ta hiện nay còn rất yếu kém, ngoại trừ Viện Khoa học SHTT của Bộ KH&CN, trong khi chúng ta chưa có một tổ chức ngoài Nhà nước nào làm về lĩnh vực này.

Chính vì thiếu các tổ chức và cá nhân đủ điều kiện làm công tác giám định nên các vụ việc tranh chấp về SHTT không thể xử lý được, cùng lắm chỉ có thể xử phạt hành chính. Và nếu doanh nghiệp không chấp nhận kết luận xử phạt, muốn khiếu nại thì cấp tòa án cao hơn cũng không có khả năng xem xét quyết định lại, khiến các doanh nghiệp – đặc biệt là khối doanh nghiệp nước ngoài – chưa yên tâm với hệ thống thực thi quyền SHTT của ta.

Mặt khác doanh nghiệp Việt Namthiếu thông tin về những công nghệ của nước ngoài đã hết thời gian bảo hộ (hoặc đang được bảo hộ ở nước ngoài nhưng chưa đăng ký bảo hộ tại Việt Nam ) nên hạn chế việc áp dụng vào sản xuất. Hoặc ngược lại, nhiều khi chúng ta bỏ tiền nhập khẩu cả những công nghệ trong nước đã có sẵn từ kết quả của những đề tài nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước.

Nguyên nhân chính của tình trạng này là do chúng ta rất thiếu hệ thống những tổ chức trung gian (môi giới, tư vấn, giám định, định giá, kiểm định…) ngoài một vài tổ chức của Nhà nước tập trung ở các thành phố lớn.

Ông có thể nói cụ thể hơn về những khó khăn trong định giá tài sản trí tuệ của ta hiện nay?

Việc định giá tài sản SHTT ở nước ngoài thường thông qua các sàn giao dịch, các sàn đấu giá, nhưng ở nước ta thị trường công nghệ còn rất sơ khai nên chưa có hình thức này. Vì vậy, nhà nghiên cứu rất khó tìm được người mua để có thể bán sản phẩm nghiên cứu của mình. Và khi tìm được doanh nghiệp có nhu cầu mua thì nhà nghiên cứu cũng không tự đánh giá được giá trị tài sản trí tuệ của mình là bao nhiêu để có thể bán (hoặc góp vốn vào doanh nghiệp). Hệ lụy là nhiều kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách Nhà nước không định giá được để chuyển giao cho doanh nghiệp. Trong thực tế, tác giả có đã chuyển giao “chui” công nghệ thuộc sở hữu của Nhà nước cho doanh nghiệp theo một giá thỏa thuận nào đó thông qua hợp đồng. Điều này là không hợp pháp, dẫn tới tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước thì bị chiếm dụng.

Vừa qua, các vấn đề khiếm khuyết về hệ thống định giá và cơ chế chuyển giao quyền sở hữu tài sản trí tuệ có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước đã được đề cập một phần trong các Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 80/2007/NĐ-CP, nhưng các nội dung này vẫn chưa được cụ thể hóa. Khi sửa đổi bổ sung Luật SHTT năm 2009, chúng ta đã định đưa vào một chương về định giá tài sản trí tuệ, nhưng cuối cùng chưa làm được vì còn vướng những quy định khác và vấn đề còn quá mới mẻ, phức tạp…

Vậy trong Chương trình giai đoạn 2010-2015, chúng ta sẽ triển khai những giải pháp chủ yếu nào để khắc phục những hạn chế của chương trình trong giai đoạn 2005-2010 ?

Ban chỉ đạo Chương trình sẽ tập trung vào một số giải pháp chính sau:

1. Trước hết chúng ta cần tiếp tục công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của xã hội về SHTT, đưa nội dung về SHTT vào chương trình đào tạo ở các trường luật, để đội ngũ những người xây dựng luật và thi hành luật trong lĩnh vực SHTT phải có kiến thức chuyên môn tối thiểu về SHTT, sớm phối hợp với các cơ quan tư pháp tổ chức những khóa đào tạo cấp tốc cho đội ngũ thẩm phán trong các tòa dân sự, hình sự để có thể xử được các vụ tranh chấp về SHTT. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức SHTT cho các cơ quan thực thi quyền (thanh tra, kiểm sát, cảnh sát điều tra, quản lý thị trường, …)

2. Đào tạo và xây dựng một hệ thống các tổ chức giám định về SHTT, trong đó có sự tham gia của các tổ chức xã hội, các hiệp hội để hình thành một hệ thống tổ chức giám định mạnh. Như vậy mới có cơ sở để xác định tính chất và mức độ các vi phạm về SHTT, giúp các tòa án xử lý hiệu quả các vụ tranh chấp liên quan. 

3. Về định giá tài sản SHTT. Vừa qua, Bộ KH&CN đã tổ chức một số hội thảo quốc tế về vấn đề này, thu hút sự quan tâm của những chuyên gia và tổ chức có kinh nghiệm trên thế giới như Tổ chức SHTT Thế giới WIPO, Phòng Thương mại châu Âu. Qua đó, chúng ta đã tiếp cận được về phương pháp luận. Vấn đề còn lại là cần chuẩn bị mọi mặt về nhân lực, trang thiết bị, và cơ sở dữ liệu để có thể xin phép Nhà nước cho thành lập cơ quan định giá, tiến tới tổ chức sàn đấu giá tài sản trí tuệ.   

4. Xây dựng cơ chế giao quyền SHTT có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước cho các tổ chức và cá nhân để chuyển giao cho doanh nghiệp hoặc góp vốn vào doanh nghiệp khoa học.

5. Cục SHTT sẽ thành lập một đơn vị chuyên khai thác kho sáng chế của nước ngoài để giới thiệu cho các doanh nghiệp trong nước tiếp cận khai thác, đặc biệt là những công nghệ đã hết thời gian bảo hộ của nước ngoài, hoặc những công nghệ chưa đăng ký bảo hộ tại Việt Nam; đồng thời giúp các doanh nghiệp tránh được nguy cơ vi phạm bản quyền mà có khi tiền phạt cao gấp nhiều lần lợi nhuận.

6. Hình thành các tổ chức trung gian (giám định, định giá, tư vấn, môi giới…) trong thị trường công nghệ. Bộ KH&CN đang xây dựng đề án về phát triển thị trường công nghệ. Nếu được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì đề án có thể giúp hình thành mạng lưới các tổ chức trung gian, giúp kết nối nhu cầu doanh nghiệp với các kết quả nghiên cứu của các Viện, trường.

Xin cảm ơn Thứ trưởng!
                                                 P.V thực hiện
----------------
1. Trưng cầu giám định là căn cứ để tòa án sử dụng nhằm đánh giá mức độ vi phạm trong một vụ án 

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.