Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 19/06/2008 21:59 (GMT+7)

Chống rét cho trâu, bò cần ngay từ công tác chọn giống

Tăng tốc cải tạo đàn bò – đúng nhưng chưa trúng

Nhu cầu tiêu dùng thịt bò trong nước ngày càng cao trong khi thịt bò sản xuất trong nước mới chiếm 5,2% tổng sản lượng thịt hơi. Hàng năm nước ta vẫn phải chi khoảng 6,7 triệu USD để nhập các loại thịt chủ yếu là thịt bò để phục vụ tiêu dùng trong nước. Áp lực này làm phát triển chăn nuôi bò thịt trở thành định hướng chiến lược chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2020.

Công tác giống đối với gia súc ăn cỏ ở nước ta chưa thực sự phát triển, với các loài nhai lại nhỏ như dê, cừu, hươu, nai,... thì công tác lai tạo chủ yếu vẫn nằm trong các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học. Các giống cừu, ngựa, hươu, nai, trâu lai ngoại thì hầu như chưa phổ biến trong sản xuất. Các loài được lai tạo mạnh nhất là lợn, gia cầm, còn gia súc ăn cỏ thì trong sản xuất đại trà mới chỉ xuất hiện nhiều dê lai và bò lai. 35,8% là tỷ lệ đàn dê lai các loại hiện nay, kể cả lai các giống dê sữa của Ấn Độ và dê Boor chuyên thịt của Mỹ. Riêng đối với bò thịt mới chỉ tập trung lai tạo theo hướng Zebu hóa (Zebu là dòng bò thịt gồm nhiều giống cao sản như Sind, Sahiwal, Brahman... ). Trong 71 năm (1923 – 1994), tỷ lệ bò lai mới chiếm 12% trong tổng đàn bò. Song từ năm 1995, chương trình cải tạo đàn bò của Bộ Nông nghiệp và PTNT được triển khai tại 27 tỉnh đến nay đã đưa số lượng bò lai lên 1,63 triệu con, tỷ lệ bò lai đạt 32%. Riêng trong 5 năm (2001 – 2006), đàn bò tăng từ 3,89 triệu con lên 6,51 triệu con đạt tốc độ tăng đàn bình quân 9,67% / năm, sản lượng thịt hơi tăng tương ứng từ 97,7 ngàn tấn (năm 2001) lên 159,4 ngàn tấn (năm 2006), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,66%/ năm. Song kết quả này không hẳn chỉ là do tăng tỷ lệ bò lai Zebu. Tuy nhiên những tỉnh nằm trong vùng dự án WB Cr. VN-2561 thì tỷ lệ bò lai Zebu rất cao như Hà Tây 85,4%, Tây Ninh 83,0%, Bình Dương 74,7%. Vĩnh Phúc 58,9%, Trà Vinh 52,0%, Nghệ An 32,9%, Quảng Ngãi 29,2%.... Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng trên chủ yếu là do sức mạnh của dự án các cấp. Khi dự án rút đi thì tỷ lệ lai Zebu chỉ khoảng 2% mỗi năm. Đàn bò sữa của nước ta chủ yếu là bò lai HF (Holstein Friesian) chiếm 84,6%, còn lại 15,4% là bò thuần. Tuy hiên, tỷ lệ lai cao ở đàn bò sữa là hợp lý vì nước ta không có bò sữa chuyên dụng bản địa.

Cải tạo đàn bò là chủ trương đúng và bước đầu đã có những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, cần khách quan xem xét lại việc Zebu hoá đàn bò đã thực sự phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế, xã hội của các địa phương chưa?

Đa số các tỉnh còn thiếu cán bộ kỹ thuật về giống. Hệ thống dịch vụ thụ tinh nhân tạo gắn liền với việc ghi chép số liệu ban đầu chưa đáp ứng yêu cầu của công tác này. Hiện cả nước chưa có một hệ thống nào cấp chứng chỉ giống và quản lý giống bò, vì vậy việc không đủ thông tin và cơ sở khoa học trong chương trình đánh giá và chọn lọc đực giống, nhất là kiểm tra đực giống qua đời sau. Do đó, việc đồng huyết trong đàn bò lai cũng khó có thể kiểm soát được nên thực tế đã có cả những con bò lai không ra lai, thậm chí có quá ít hoặc không có ưu thế lai. Trong khi đó, cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu sinh lý, sinh thái của đàn bò lai hầu như chưa được nghiên cứu. Trên thực tế, đa số bà con nông dân vẫn nuôi con lai theo phương thức chăn thả truyền thống.

Trong tình trạng thiếu thức ăn thô xanh nói chung cho cả đàn gia súc ăn cỏ (hiện tổng sản lượng cỏ trồng mới chỉ đủ đáp ứng 8% tổng nhu cầu) thì các con bò lai có thể thừa hưởng được tiềm năng tăng trọng cao của bố dòng Zebu nhưng việc phát huy được hay không thì chưa dám chắc. Vì thế, ngay trong điều kiện bình thường nhất thì các con bò lai đã phải chịu thiệt thòi so với điều kiện đầy đủ đáng ra chúng cần được cung cấp như thức ăn thô xanh tươi ngon đầy đủ, thức ăn tinh, thức ăn bổ sung khoáng và vitamin cân đối, chuồng trại và bãi chăn thả an toàn, không đồng huyết giống cùng sự phòng dịch hoàn hảo. Khi có sự cố thời tiết thất thường, quá lạnh hay quá nóng.. . thì những con bò đáng thương này lại phải cố gắng chịu đựng thêm chút nữa, chút nữa… cứ thế, nếu thiên tai kéo dài thì điều kiệt quệ gục ngã là tất yếu.

Số phận những con trâu, bò còn nguyên “mác” bản địa cũng chẳng khấm khá hơn vì từ lâu chúng cũng không được quản lý, cấp chứng chỉ giống và tận hưởng các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp. Vẫn phương thức nuôi chăn thả truyền thống hàng nghìn năm nay, công tác đảo đực chậm trễ, giao phối tự do trong đàn nên hiện tượng đồng huyết cũng khá phổ biến, làm suy giảm chất lượng giống. Chưa kể hiện tượng quản lý lỏng lẻo, lai tạp nên nguy cơ mai một các vốn gen quý tăng dần, thức ăn cũng không “thuần” như trước, nhiều loại cỏ tự nhiên mới, nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng làm thức ăn đều có nguồn gốc từ các loại cây nông nghiệp trồng trong điều kiện sinh thái mới, biến đổi gen, phun thuốc bảo vệ thực vật hoặc bón phân hóa học quá nhiều,... Vì thế, nếu chỉ xem xét trong khả năng chịu đựng kham khổ và tính thích nghi sinh thái địa phương của trâu, bò bản địa cũng đang kém dần.

Làm thế nào?

Áp lực sản xuất thực phẩm, việc làm cho nông dân và cạnh tranh với thị trường thực phẩm ngoài nước đã đưa việc phát triển chăn nuôi, trong đó trâu, bò, dê, ngựa,... là định hướng trọng tâm. Công tác giống với việc đẩy nhanh tốc độ Zebu hóa đàn bò cũng là định hướng đúng. Tuy nhiên, cần xem xét khả năng của từng địa phương mà phát triển đàn bò lai hay không. Đối với các địa phương có địa hình hiểm trở, nhiều đồi núi cao, giao thông không thuận tiện, phương thức chăn thả là chủ yếu như Hà Giang, Ninh Bình, Lào Cai,... thì việc phát triển đàn bò lai với sức vóc to lớn, khó leo trèo và chịu đựng kham khổ là việc không đem lại kết quả cao. Ngược lại, ở các địa phương có khả năng phát triển trang trại trâu, bò như Bình Thuận, Ninh Thuận,... thì công tác Zebu hóa đàn bò thịt là cần thiết.Ngoài ra, việc xem xét hạ tầng (cán bộ kỹ thuật, cơ sở giống, quản lý giống) cho công tác giống ở các tỉnh cũng rất cần thiết trước khi đầu tư công tác lai tạo các giống bò.

Những địa phương nuôi giữ tốt được các giống bản địa, cần có chính sách đầu tư để phát triển, thương hiệu hóa để khai thác và bảo tồn được các vốn gen quý.

Và một công việc chung nhất là cải tạo và nâng cấp ngay hệ thống nghiên cứu và quản lý giống các cấp.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.