Chống rét cho trâu, bò cần ngay từ công tác chọn giống
Tăng tốc cải tạo đàn bò – đúng nhưng chưa trúng
Nhu cầu tiêu dùng thịt bò trong nước ngày càng cao trong khi thịt bò sản xuất trong nước mới chiếm 5,2% tổng sản lượng thịt hơi. Hàng năm nước ta vẫn phải chi khoảng 6,7 triệu USD để nhập các loại thịt chủ yếu là thịt bò để phục vụ tiêu dùng trong nước. Áp lực này làm phát triển chăn nuôi bò thịt trở thành định hướng chiến lược chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp giai đoạn 2005 – 2020.
Công tác giống đối với gia súc ăn cỏ ở nước ta chưa thực sự phát triển, với các loài nhai lại nhỏ như dê, cừu, hươu, nai,... thì công tác lai tạo chủ yếu vẫn nằm trong các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học. Các giống cừu, ngựa, hươu, nai, trâu lai ngoại thì hầu như chưa phổ biến trong sản xuất. Các loài được lai tạo mạnh nhất là lợn, gia cầm, còn gia súc ăn cỏ thì trong sản xuất đại trà mới chỉ xuất hiện nhiều dê lai và bò lai. 35,8% là tỷ lệ đàn dê lai các loại hiện nay, kể cả lai các giống dê sữa của Ấn Độ và dê Boor chuyên thịt của Mỹ. Riêng đối với bò thịt mới chỉ tập trung lai tạo theo hướng Zebu hóa (Zebu là dòng bò thịt gồm nhiều giống cao sản như Sind, Sahiwal, Brahman... ). Trong 71 năm (1923 – 1994), tỷ lệ bò lai mới chiếm 12% trong tổng đàn bò. Song từ năm 1995, chương trình cải tạo đàn bò của Bộ Nông nghiệp và PTNT được triển khai tại 27 tỉnh đến nay đã đưa số lượng bò lai lên 1,63 triệu con, tỷ lệ bò lai đạt 32%. Riêng trong 5 năm (2001 – 2006), đàn bò tăng từ 3,89 triệu con lên 6,51 triệu con đạt tốc độ tăng đàn bình quân 9,67% / năm, sản lượng thịt hơi tăng tương ứng từ 97,7 ngàn tấn (năm 2001) lên 159,4 ngàn tấn (năm 2006), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,66%/ năm. Song kết quả này không hẳn chỉ là do tăng tỷ lệ bò lai Zebu. Tuy nhiên những tỉnh nằm trong vùng dự án WB Cr. VN-2561 thì tỷ lệ bò lai Zebu rất cao như Hà Tây 85,4%, Tây Ninh 83,0%, Bình Dương 74,7%. Vĩnh Phúc 58,9%, Trà Vinh 52,0%, Nghệ An 32,9%, Quảng Ngãi 29,2%.... Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng trên chủ yếu là do sức mạnh của dự án các cấp. Khi dự án rút đi thì tỷ lệ lai Zebu chỉ khoảng 2% mỗi năm. Đàn bò sữa của nước ta chủ yếu là bò lai HF (Holstein Friesian) chiếm 84,6%, còn lại 15,4% là bò thuần. Tuy hiên, tỷ lệ lai cao ở đàn bò sữa là hợp lý vì nước ta không có bò sữa chuyên dụng bản địa.
Cải tạo đàn bò là chủ trương đúng và bước đầu đã có những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, cần khách quan xem xét lại việc Zebu hoá đàn bò đã thực sự phù hợp với điều kiện sinh thái, kinh tế, xã hội của các địa phương chưa?
Đa số các tỉnh còn thiếu cán bộ kỹ thuật về giống. Hệ thống dịch vụ thụ tinh nhân tạo gắn liền với việc ghi chép số liệu ban đầu chưa đáp ứng yêu cầu của công tác này. Hiện cả nước chưa có một hệ thống nào cấp chứng chỉ giống và quản lý giống bò, vì vậy việc không đủ thông tin và cơ sở khoa học trong chương trình đánh giá và chọn lọc đực giống, nhất là kiểm tra đực giống qua đời sau. Do đó, việc đồng huyết trong đàn bò lai cũng khó có thể kiểm soát được nên thực tế đã có cả những con bò lai không ra lai, thậm chí có quá ít hoặc không có ưu thế lai. Trong khi đó, cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhu cầu sinh lý, sinh thái của đàn bò lai hầu như chưa được nghiên cứu. Trên thực tế, đa số bà con nông dân vẫn nuôi con lai theo phương thức chăn thả truyền thống.
Trong tình trạng thiếu thức ăn thô xanh nói chung cho cả đàn gia súc ăn cỏ (hiện tổng sản lượng cỏ trồng mới chỉ đủ đáp ứng 8% tổng nhu cầu) thì các con bò lai có thể thừa hưởng được tiềm năng tăng trọng cao của bố dòng Zebu nhưng việc phát huy được hay không thì chưa dám chắc. Vì thế, ngay trong điều kiện bình thường nhất thì các con bò lai đã phải chịu thiệt thòi so với điều kiện đầy đủ đáng ra chúng cần được cung cấp như thức ăn thô xanh tươi ngon đầy đủ, thức ăn tinh, thức ăn bổ sung khoáng và vitamin cân đối, chuồng trại và bãi chăn thả an toàn, không đồng huyết giống cùng sự phòng dịch hoàn hảo. Khi có sự cố thời tiết thất thường, quá lạnh hay quá nóng.. . thì những con bò đáng thương này lại phải cố gắng chịu đựng thêm chút nữa, chút nữa… cứ thế, nếu thiên tai kéo dài thì điều kiệt quệ gục ngã là tất yếu.
Số phận những con trâu, bò còn nguyên “mác” bản địa cũng chẳng khấm khá hơn vì từ lâu chúng cũng không được quản lý, cấp chứng chỉ giống và tận hưởng các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp. Vẫn phương thức nuôi chăn thả truyền thống hàng nghìn năm nay, công tác đảo đực chậm trễ, giao phối tự do trong đàn nên hiện tượng đồng huyết cũng khá phổ biến, làm suy giảm chất lượng giống. Chưa kể hiện tượng quản lý lỏng lẻo, lai tạp nên nguy cơ mai một các vốn gen quý tăng dần, thức ăn cũng không “thuần” như trước, nhiều loại cỏ tự nhiên mới, nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng làm thức ăn đều có nguồn gốc từ các loại cây nông nghiệp trồng trong điều kiện sinh thái mới, biến đổi gen, phun thuốc bảo vệ thực vật hoặc bón phân hóa học quá nhiều,... Vì thế, nếu chỉ xem xét trong khả năng chịu đựng kham khổ và tính thích nghi sinh thái địa phương của trâu, bò bản địa cũng đang kém dần.
Làm thế nào?
Áp lực sản xuất thực phẩm, việc làm cho nông dân và cạnh tranh với thị trường thực phẩm ngoài nước đã đưa việc phát triển chăn nuôi, trong đó trâu, bò, dê, ngựa,... là định hướng trọng tâm. Công tác giống với việc đẩy nhanh tốc độ Zebu hóa đàn bò cũng là định hướng đúng. Tuy nhiên, cần xem xét khả năng của từng địa phương mà phát triển đàn bò lai hay không. Đối với các địa phương có địa hình hiểm trở, nhiều đồi núi cao, giao thông không thuận tiện, phương thức chăn thả là chủ yếu như Hà Giang, Ninh Bình, Lào Cai,... thì việc phát triển đàn bò lai với sức vóc to lớn, khó leo trèo và chịu đựng kham khổ là việc không đem lại kết quả cao. Ngược lại, ở các địa phương có khả năng phát triển trang trại trâu, bò như Bình Thuận, Ninh Thuận,... thì công tác Zebu hóa đàn bò thịt là cần thiết.Ngoài ra, việc xem xét hạ tầng (cán bộ kỹ thuật, cơ sở giống, quản lý giống) cho công tác giống ở các tỉnh cũng rất cần thiết trước khi đầu tư công tác lai tạo các giống bò.
Những địa phương nuôi giữ tốt được các giống bản địa, cần có chính sách đầu tư để phát triển, thương hiệu hóa để khai thác và bảo tồn được các vốn gen quý.
Và một công việc chung nhất là cải tạo và nâng cấp ngay hệ thống nghiên cứu và quản lý giống các cấp.








