Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/09/2013 22:36 (GMT+7)

Chính sách giáo dục của nhà Mạc trong Hồng Đức thiện chính thư

Hồng Đức thiện chính thư là bộ luật thời Mạc

Hồng Đức thiện chính thư nghĩa là sách ghi chép về những chính sách tốt thời Hồng Đức. Văn bản Hồng Đức thiện chính thư hiện còn không ghi cụ thể tên tác giả và niên đại biên soạn. do đó đã gây nên hiểu lầm. Có người cho rằng đây là bộ luật được biên soạn dưới thời Lê Thánh Tông. Bởi lẽ, sách gồm khoảng 80 điều mục lớn, ghi chép các lệ lệnh về ruộng đất, hôn nhân, quy chế để tang... được ban hành chủ yếu dưới thời Hồng Đức. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh được Hồng Đức thiện chính thư không phải là bộ luật được ban hành dưới thời Hồng Đức. Nhà nghiên cứu Đinh Khắc Thuân khẳng định: “Hồng Đức thiện chính từng được coi là tập sách về luật lệ biên soạn dưới niên hiệu Hồng Đức (1470-1497) thời Lê, nhưng thực tế nó được biên soạn vào thời Mạc”. Trần Thị Kim Anh đã phân tích và đi đến kết luận: “ Sách Hồng Đức thiện chính được biên soạn vào thời Mạc khoảng từ năm 1541 đến 1560”. Kết luận của Trần Thị Kim Anh cũng giống với nhận xét của luật sư Vũ Văn Mậu: “Chúng ta có thể chắc chắn rút bớt khoảng thời gian trong đó quyển Hồng Đức thiện chính được soạn ra xuống 20 năm từ năm 1541 đến năm 1560. Nhà nghiên cứu người Mỹ John Whitmore cũng khẳng định: “Trong công trình này, nhà Mạc đã tập hợp, thu nhận luật pháp từ triều đại Lê Thánh Tông, nghĩa là nhấn mạnh tầm quan trọng của chính họ (ví dụ: Chú trọng vào đất đai hơn các mối quan hệ riêng biệt). Mặc dù nó không được giới thiệu trong tác phẩm nhưng một vài điều luật mới đã được thêm vào năm 1540 dường như đã biểu thị rằng nó được biên soạn vào năm đó. Những nhận xét của các nhà nghiên cứu trên hoàn toàn có cơ sở khoa học. Chúng tôi đồng tình với những nhận xét trên. Bởi vì ngoài một số điều luật được ban hành dưới thời Hồng Đức còn có một số điều luật được ban hành trước và sau niên đại này. Đó là các niên hiệu Quang Thuận (1460-1469) đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Thuận (1510-1516) đời vua Lê Tương Dực, niên hiệu Quang Thiệu (1516-1526) đời vua Lê Chiêu Tông; đặc biệt có hai niên đại của nhà Mạc là niên hiệu Đại Chính (1530-1540) đời Mạc Đăng Doanh, niên hiệu Quảng Hòa (1541-1546) đời Mạc Phúc Hải nhưng lại không có niên hiệu của nhà Lê Trung Hưng. Vậy phải giải thích điều này như thế nào?

Chúng ta biết rằng, năm 1527 mặc dù giành ngôi nhà Lê sau một cuộc đảo chính êm thấm nhưng trong buổi đầu chính quyền còn trứng nước, Mạc Đăng Dung chưa thể làm gì hay hơn là giữ nguyên và ổn định tình trạng hiện thời. Về điều này các sử gia nhà Lê cho biết “Đăng Dung sợ lòng người nhớ vua cũ, để lâu lại sinh biến, nên phải tuân giữ pháp độ của triều Lê...”. Và trên thực tế, Mạc Đăng Dung không cần thiết phải thay đổi hệ thống luật pháp vốn đã khá hoàn chỉnh dưới thời Lê Sơ, nhất là những luật lệnh điều chỉnh hữu hiệu các vấn đề về tổ chức nhà nước cũng như xã hội, rất có lợi cho việc tập trung quyền lợi vào tay vua (điều Mạc Đăng Dung cần lúc đó) được ban hành dưới thời Hồng Đức - một thời được xem là “thiện chính”. Hơn thế, các vua Mạc sau đó đã kế thừa các điều luật còn phù hợp của nhà Lê sơ để sử dụng khi chưa xây dựng được cho mình một bộ luật riêng. Chúng ta có thể thấy điều đó qua đoạn trích sau: “ Ngày 14 tháng 3 niên hiệu Đại Chính thứ 11 (1540), thần vâng thấy Nhất phủ Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thẩm đoán tụng Thiếu sự Liêm Quận công Mạc Ninh Bang vâng khảo cứu điều lệnh của tiền triều gồm 4 điều”. Do đó, việc nhà Mạc cho tập hợp các điều luật còn phù hợp được ban hành dưới thời Lê sơ, làm thành bộ luật phục vụ cho vương triều của mình là điều có thể hình dung được. Có thể nói đó cũng là một sự ứng xử thích hợp của vua Mạc Đăng Dung và các vua kế vị.

Mặt khác năm 1533, với sự giúp đỡ của Quốc vương Ai Lao (Sạ Đẩu), ngọn cờ “ Phù Lê diệt Mạc” được Nguyễn Kim kéo lên trên đất Sầm Nưa, đưa đến sự hình thành một cục diện mới: Cục diện Nam - Bắc triều được xác lập. Từ đây mỗi bên thiết lập một triều đình riêng với niên hiệu riêng. Hồng Đức thiện chính thư chỉ ghi chép các luật lệnh của nhà Lê sơ cũng như hai niên hiệu Đại Chính, Quảng Hòa nhà Mạc mà không hề đề cập tới các niên hiệu của nhà Lê trung hưng. Điều đó cho thấy sách được biên soạn trong vùng nhà Mạc quản lý, với khuôn thời gian dưới đời vua Mạc Phúc Hải (1541-1546), hoặc đời vua Mạc Phúc Nguyên (1546-1564) hay Mạc Mậu Hợp (1564-1592).

Về đời vua Mạc Mậu Hợp có thể loại trừ, vì Hồng Đức thiện chính thư không ghi một niên đại nào của Mạc Mậu Hợp. Đồng thời, căn cứ vào lời của quan Trung Trinh đại phu Thanh hình Hiến sát xứ đại Kinh Bắc là Nguyễn Như Cương tâu vào “Ngày mùng 8 tháng 10 năm Quảng Hòa thứ 3 (1543)”, chúng ta càng có thể chắc rằng Hồng Đức thiện chính thư được biên soạn trong khoảng thời gian từ năm 1541 đến 1564.

Hơn nữa 1592, sau khi nhà Mạc thất bại phải rút khỏi kinh thành Thăng Long, chính quyền Lê - Trịnh đã tìm mọi cách thiêu hủy tất cả những di sản của nhà Mạc. Bởi vậy cuốn sách này không thể ghi là “Đại Chính thiện chính” hoặc “Quảng Hòa thiện chính” mà phải “ngụy trang” thành một cuốn sách của thời Hồng Đức.

Tóm lại, từ những phân tích trên chúng ta có thể đi đến kết luận: Hồng Đức thiện chính thư là tác phẩm được biên soạn dưới thời Mạc, trong khoảng thời gian từ 1541 đến 1564, nhằm ghi chép và bổ sung vào các điều luật tiêu biểu có từ thời Hồng Đức làm thành bộ luật phục vụ cho vương triều này.

Chính sách giáo dục của nhà Mạc trong Hồng Đức thiện chính thư

Chính sách giáo dục của nhà Mạc được đề cập đến trong Hồng Đức thiện chính thư gồm các nội dung chủ yếu sau:

Bổn phận của học trò

Thời Mạc người thầy và nghề dạy học được Nhà nước bảo vệ bằng những điều lệ cụ thể. Luật Hồng Đức thiện chính quy định học trò phải có bổn phận kính trọng thầy giáo “khi gặp phải kính cẩn, lễ phép, không được khinh nhờn ngạo mạn”. Nếu coi thường không tôn kính thầy, thì chẳng những “học nghiệp không thành” mà còn “bị khép vào tội bất kính”, sẽ bị xử phạt bằng hình thức “roi vọt” và nộp tiền. Điều 13 trong Hồng Đức thiện chính thư quy định rõ: “Kẻ nào khinh nhờn với thầy thì bị phạt 50 quan tiền quý, kẻ nào đánh chửi thầy thì tiền phạt tăng thêm 15 quan, và phạt đánh 80 trượng”. Đây là mức phạt khá nặng, vì thời Mạc 1 mẫu ruộng giá 30 quan. Mà ở đây mức phạt không kính thầy lên đến 50 quan, tính ra là gần 2 mẫu ruộng, đó là chưa kể người phạm tội còn bị đánh 80 trượng. Mức phạt trên cho thấy địa vị của thầy giáo trong xã hội cũng như sự nghiêm minh của pháp luật đương thời.

Không chỉ với thấy dạy, nếu học trò vô lễ, xúc phạm nhân phẩm những người thân trong gia đình thầy cũng bị luật pháp trị tội, tuy mức phạt có nhẹ hơn: “Phạm các tội kể trên đối với vợ thầy thì tiền phạt và số trượng bị đánh đều giảm đi một nửa, đối với vợ lẽ của thầy thì lại giảm đi một nửa nữa”. Điều 14 còn cho biết thêm, nếu “Vợ con các học trò đánh chửi thầy học thì bị phạt tiền 10 quan, xử đánh 80 trượng, đánh chửi vợ thầy thì phạt tiền 5 quan, xử đánh 50 trượng”. Và tỏ rõ sự nghiêm khắc, thì bản thân người học trò đó cũng phải chịu tội: “Kẻ đó (người học trò - TG chú thích) tuy đã làm nhưng suốt đời không cho dạy học nữa”.

Nghĩa thầy là một thứ tình cảm sâu nặng, thiêng liêng và cao cả; đòi hỏi người học trò phải luôn khắc ghi, bởi lẽ ơn dạy bảo của thầy giáo cũng như nghĩa sinh thành của cha mẹ. Vì thế nếu học trò quên công ơn thầy, pháp luật sẽ phạt “suốt đời không cho đi thi, không được ra làm quan, hoặc theo nghề dạy học”. Với người trí thức phong kiến, đi học dùi mài kinh sử là để ra làm quan “tiến vi quan”; không chí ít cũng lui về làm thầy dạy học “thoái vi sư”. Điều luật trên tỏ rõ tuy xã hội và nhà nước trọng vọng kẻ sĩ, nhưng với những học trò bội ơn thầy thì luật pháp sẵn sàng cắt đứt con đường tiến thân cũng như vị trí của họ trong xã hội.

Có thể nói, thời Mạc người thầy luôn luôn được Nhà nước đề cao. Địa vị cũng như quyền lợi của họ được pháp luật bảo vệ. Điều này cho ta thấy chính sách coi trọng tri thức của vương triều Mạc.

Tư cách đạo đức thí sinh

Một trong những mục đích quan trọng của khoa cử thời Mạc là tuyển chọn người tài đức ra làm quan, phục vụ vương triều. Do đó, việc xem xét tư cách đạo đức học trò trước khi thi là yêu cầu đầu tiên.

Để đủ điều kiện dự thi Hương, học trò phải được các xã trường “bảo kết” về tư cách đạo đức và phải nộp giấy “thông căn cước sắc” khai rõ lý lịch ba đời, không được giả mạo. Nếu “ai khai mạo họ để thi, hay là để bổ quan chức, sẽ bị khép vào tội làm mất tổ tôn (như họ Nguyễn mà khai họ Lê)”. Quy định này cho thấy thể lệ thi cử rất chặt chẽ, nó hạn chế được hiện tượng gian lận trong thi cử cũng như giúp cho nhà nước chọn được những người có phẩm hạnh.

Còn với các giám sinh Quốc Tử giám, nhà Mạc có hẳn một điều luật riêng. Giám sinh là hạt giống Nhà nước ươm mầm để trong tương lai trở thành những người giúp việc trung thành, phục vụ đắc lực cho bộ máy quản lý xã hội. Họ được đào luyện dưới trường Quốc học có chất lượng cao, với những người thầy tài giỏi, đức hạnh, mô phạm; đồng thời được hưởng những ưu đãi đặc biệt của Nhà nước. Do đó, yêu cầu của Nhà nước đối với các giám sinh về trình độ học vấn, nhất là tư cách đạo đức cũng cao hơn so với học trò ở địa phương, trường làng. Một khi họ làm những điều sai trái vi phạm quy định như phóng đãng, cờ bạc thì sẽ bị phạt rất nặng, “ba khoa không được đi thi, không được bổ dụng”. Nếu không biết sửa chữa, mà còn tái phạm thì mức phạt sẽ càng nặng hơn, có thể bị tội đồ thậm chí bị lưu đày: “Nếu ai tái phạm thì tăng thêm một mức để trị tội. Đối với mức không cho dự thi thì tăng thêm một mức xử tội đồ ba năm, đối với mức không bổ dụng thì gia thêm một mức, lưu đày đi châu xa ba năm”. Nhờ định lệ này, học trò trường Giám luôn lo tu dưỡng đạo đức, chăm chỉ học hành; chất lượng trường Quốc học vì thế được nâng lên một bậc.

Ngay cả những người đã đỗ Sinh đồ trong kỳ thi Hương, luật nhà Mạc cũng quy định chặt chẽ: “Là Sinh đồ là đã đỗ đạt khoa trường phải giữ lễ nghĩa, biết liêm sỉ, không được càn rỡ làm điều sai trái không đúng luật pháp”; và nếu vi phạm họ cũng sẽ “bị xử theo luật”, không có bất cứ một đặc ân nào.

Với những quy lệ chặt chẽ về tư cách đạo đức thí sinh nói trên, giáo dục nhà Mạc đã chọn lựa và đào tạo được một đội ngũ trí thức có học hạnh, bổ sung vào bộ máy nhà nước.

Chính sách đãi ngộ

Nhà Mạc có chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần rất lớn đối với hiền tài, đặc biệt là những người đỗ tiến sĩ. Sau khi thi đậu, các tân tiến sĩ được gia nhập vào hàng ngũ quan lại, không chỉ đem tài năng phụng sự đất nước, thực hiện lý tưởng “thượng trí quân, hạ trạch dân” (nghĩa là trên giúp vua, dưới lo việc dân) của bản thân; mà còn làm rạng danh gia đình, dòng họ. Điều 37 trong Hồng Đức thiện chính cho biết những người thân của người đỗ đạt cũng được triều đình phong thưởng trọng hậu: “Nếu con đỗ đạt thì nên thưởng cho cha phẩm hàm để thiên hạ noi theo đạo cha con, một nhà vinh hiển”.

Nhìn chung, các ân điển dành cho những người đỗ đạt và gia đình họ thể hiện sự quan tâm cũng như chính sách khuyến khích Nho học của nhà Mạc, đồng thời có tác dụng thúc đẩy học phong, vun trồng thế giáo. Cũng nhờ chính sách đó mà truyền thống khoa cử được tạo dựng từ các triều đại trước vẫn được tiếp nối, hình thành nên những làng học, họ học, những gia đình khoa bảng. Theo thống kê của Nguyễn Quang Hà “dưới thời Mạc có 83 gia đình đã từng có 2 người đỗ tiến sĩ, 24 trường hợp có gia đình có 3 người đỗ tiến sĩ, 11 trường hợp gia đình có 4 người đỗ tiến sĩ, 3 trường hợp gia đình có 5 người đỗ tiến sĩ, 1 trường hợp trong gia đình từng có 9 người đỗ”. Về mặt này, giáo dục thời Mạc đã kế thừa và bồi đắp truyền thống hiếu học của dân tộc.

Nói tóm lại, Hồng Đức thiện chính thư là một bộ luật được ban hành và thực thi dưới triều Mạc. Qua Hồng Đức thiện chính thư, chúng ta thấy chính sách giáo dục của nhà Mạc đã được cụ thể hóa bằng pháp luật. Trong đó địa vị người thầy được nâng cao, đạo đức học trò được coi trọng, ân điển rộng khắp. Đây cũng là một lý do giải thích tại sao thời Mạc giáo dục khoa cử phát triển.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao tặng kỷ vật "Hồ sơ chứng tích chiến tranh" 2026 tại Hoa Kỳ
Trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, chiều 21/9 (theo giờ địa phương), tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp những người bạn Hoa Kỳ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến New York tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và Liên hợp quốc đang cùng nhau hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ.