Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Trước hết về mục tiêu, Nghị quyết Trung ương 4 xác định quyết tâm phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam sẽ trở thành quốc gia mạnh lên từ biển; đảm bảo vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần quan trọng làm cho đất nước giàu mạnh. Đến năm 2020, phấn đấu kinh tế biển, ven biển sẽ đóng góp khoảng 53-54% GDP của cả nước. Những mục tiêu trên được xác định, xuất phát từ vị trí chiến lược cũng như tiềm năng kinh tế rất lớn. Với một vùng biển rộng khoảng 1 triệu km 2, bờ biển dài trên 3260 km, mở ra cả ba hướng Đông, Nam và Tây Nam. Ven bờ biển có hàng ngàn đảo lớn nhỏ các loại, trong đó có nhiều đảo có vị trí chiến lược rất quan trọng. Nếu nhìn về địa chiến lược, vùng biển nước ta nằm án ngữ tuyến hàng hải từ Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, là cầu nối giữa Châu Âu - Trung Cận Đông sang Nhật Bản, đi Trung Quốc, đến các nước khu vực Đông Nam Á. Như vậy, biển nước ta không chỉ là cầu nối cực kỳ quan trọng, mà còn là điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập, hợp tác quốc tế đối với các nước trên thế giới.
Vùng biển nước ta giàu tiềm năng về dầu khí, hải sản (trữ lượng dầu khí ước tính khoảng 3-4 tỷ tấn. Trữ lượng hải sản cũng ước tính khoảng 3-4 tỷ tấn). Dọc bờ biển có khoảng 100 địa điểm có thể xây dựng hải cảng, trong đó có những vị trí có thể xây dựng hải cảng quốc tế, trở thành một cảng trung chuyển quốc tế có tầm cỡ. Chúng ta có 125 bãi biển lớn và nhỏ, có cảnh quan đẹp, trong đó có trên 20 bãi biển đạt tiêu chuẩn quốc tế, có sức thu hút khách du lịch quốc tế. Ven biển có nhiều khoáng sản: than, sắt, titan, cát thủy tinh, các loại vật liệu xây dựng khác. Ngoài ra, có 4-5 vạn héc ta ruộng muối, cũng là một tài nguyên quý.
Về mặt nguồn lực, ven biển hiện nay có một cộng đồng dân cư khoảng 25 triệu người, bằng 31% dân số cả nước, trong đó có khoảng 13 triệu lao động. Dự báo đến năm 2010, dân số vùng ven biển sẽ lên 27 triệu người và sẽ có khoảng 18 triệu lao động. Đến năm 2020, dân số vùng ven biển sẽ lên khoảng 30 triệu người, lực lượng lao động sẽ là khoảng 19 triệu. Với vị trí chiến lược và tiềm năng của biển như vậy, việc Đảng xác định mục tiêu nói trên là hoàn toàn có căn cứ xác thực. Thực tế cũng cho thấy, từ năm 2005, kinh tế biển, ven biển đã đóng góp được 48% vào tổng GDP cả nước. Riêng xuất khẩu và thu ngoại tệ, năm 2005, dầu khí xuất khẩu được 7 tỷ USD, đóng góp cho ngân sách Nhà nước 50 ngàn tỷ đồng; thuỷ, hải sản xuất khẩu được 2,7 tỷ USD.
Để phát huy hơn nữa tiềm năng của biển và thực hiện chiến lược về biển, Hội nghị Trung ương 4 cũng đã chỉ ra những lĩnh vực trước mắt cần phải ưu tiên; đồng thời đề ra một hệ thống các chính sách, giải pháp rất cụ thể:
Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục sâu rộng trong các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân, nhằm nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Biển không chỉ đơn thuần về kinh tế, du lịch, biển còn là tài sản, tài nguyên quốc gia. Gắn với biển là những vấn đề đối nội, đối ngoại, là an ninh, chủ quyền quốc gia, dân tộc. Từ chỗ nhận thức như vậy, điều quan trọng là phải có các chủ trương, chính sách phát triển về biển đúng đắn, khả thi.
Hai là, xây dựng lực lượng quốc phòng và an ninh, đủ sức bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh trên biển. Xây dựng và phát triển kinh tế biển phải gắn chặt với đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; bảo đảm vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo của Tổ quốc.
Ba là, đẩy mạnh điều tra cơ bản nguồn tài nguyên biển. Coi trọng phát triển khoa học - công nghệ biển, coi đó là giải pháp đi trước, mang tính đột phá, nhằm phát huy tốt nhất tiềm năng khoa học cho kinh tế biển. Phát triển hệ thống dự báo, cảnh báo phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro cho các hoạt động trên biển.
Bốn là, có quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Coi công tác quy hoạch phải đi trước một bước với tầm nhìn dài hạn, hiện đại theo những tiêu chuẩn phù hợp với quốc tế và khu vực. Quán triệt quan điểm coi vùng duyên hải gắn với kinh tế biển là vùng động lực để mở cửa, thúc đẩy phát triển toàn bộ nền kinh tế.
Năm là, tăng cường quản lý Nhà nước có hiệu lực và hiệu quả đối với các vấn đề liên quan đến biển. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển làm cơ sở cho việc xác lập chủ quyền trên các vùng biển, đảo. Ban hành các cơ chế, chính sách đảm bảo cho việc phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ quốc phòng và an ninh.
Sáu là, xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển. Khuyến khích mạnh mẽ các nguồn vốn đầu tư dưới mọi hình thức để phát triển kinh tế biển, kể cả các công trình thuộc kết cấu hạ tầng lớn, như cảng biển, đường giao thông, các khu đô thị, khu công nghiệp.
Bảy là, phát triển nguồn nhân lực biển bao gồm đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia và người lao động có tay nghề. Khuyến khích việc xây dựng một số cơ sở đào tạo ngành nghề về biển (đại học, cao đẳng, dạy nghề). Quan tâm chú ý đến việc cải thiện nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm an toàn tính mạng của những người hoạt động trên biển, đảo và người dân ở những vùng bị thiên tai.
Tám là, tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển để khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên biển theo nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền, hoà bình, hợp tác, hữu nghị. Xây dựng hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đối ngoại về biển phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế. Mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt với các nước lân cận biển Đông và những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học-công nghệ mạnh về biển.
Chín là, xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh làm lực lượng nòng cốt trong phát triển kinh tế biển với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Các lĩnh vực cần đặc biệt chú ý là điều tra, khai thác, chế biến dầu khí, khoáng sản, công nghiệp đóng tàu, vận tải biển, khai thác và chế biển hải sản.
Để tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng, đòi hỏi một sự nỗ lực và quyết tâm lớn của toàn Đảng, toàn dân ta. Chỉ có như vậy chúng ta mới có thể phát huy tốt vị trí chiến lược và tiềm năng to lớn của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.








