Cấy máy vào người
Ngày càng hiện đại và nhỏ gọn
Máy tạo nhịp tim là một thiết bị điện tử được thiết kế để phát ra các xung động điện thích hợp, thông qua điện cực (thường được đặt ở trong buồng tim), có thể kích thích tim đập theo nhịp của máy. Máy chủ yếu được dùng để điều trị các rối loạn nhịp tim (nhịp tim quá chậm hoặc quá nhanh gây nguy hiểm, đe doạ tính mạng người bệnh).
Với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, ngày càng có nhiều loại máy tạo nhịp hiện đại hơn. Đến nay, hầu hết các máy tạo nhịp cấy vào cơ thể đều được cài sẵn chương trình với nhiều thông số kỹ thuật khác nhau. Các thông số này đều có thể điều chỉnh được ngay cả sau khi máy đã được cấy vào cơ thể nhờ một chiếc máy lập chương trình. Thông qua máy lập chương trình, người thầy thuốc có thể kiểm tra tình trạng hoạt động của máy tạo nhịp tim, điều chỉnh các thông số sao cho phù hợp nhất với người bệnh và kéo dài tuổi thọ của máy.
Kích thước máy tạo nhịp cũng ngày càng thu nhỏ. Các máy tạo nhịp vĩnh viễn thường được dùng để cấy cho bệnh nhân tại Viện Tim Mạch chỉ nặng 17-23g. Tuổi thọ của máy cũng ngày càng được nâng cao. Nếu được đặt và điều chỉnh phù hợp, một chiếc máy Medtronic VVIR thông thường có thể sử dụng được trên 10 năm.
Đối với các bệnh nhân có rối loạn nhịp phức tạp (vừa có nhịp nhanh vừa có nhịp chậm, hoặc các bệnh nhân có cơn tim nhanh nguy hiểm và hay tái phát), người ta sử dụng máy chuyển nhịp phá rung tim tự động. Đây là loại máy có tính năng chống cả nhịp chậm và nhịp nhanh. Bình thường máy phát xung để điều trị nhịp chậm, nhưng khi bệnh nhân xuất hiện các cơn nhịp nhanh nguy hiểm như cơn tim nhanh thất hoặc rung thất…, máy sẽ tự phóng ra một luồng điện để cắt cơn tim nhanh.
Chỉ mất 30-45 phút phẫu thuật
Với phương pháp tạo nhịp tạm thời, một điện cực được đưa vào buồng tim bệnh nhân (buồng thất phải) rồi nối với một máy tạo nhịp lớn điều chỉnh bằng tay đặt ở ngoài cơ thể bệnh nhân (xem ảnh). Tạo nhịp tạm thời thường được chỉ định ở các trường hợp nhịp chậm do nhiễm trùng nhiễm độc cấp, nhịp chậm do Blốc nhĩ thất cấp II, cấp III do nhồi máu cơ tim cấp, dự phòng sau phẫu thuật tim, trong khi chờ cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn, dùng để điều trị cắt cơn tim nhanh thất. Thông thường thời gian đặt máy tạo nhịp tạm thời không quá 2 tuần, nếu quá thời gian đó bệnh nhân vẫn cần phải đặt máy để điều trị thì nên chuyển sang cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn.
Còn để tạo nhịp vĩnh viễn, người thầy thuốc đưa một điện cực qua đường tĩnh mạch vào buồng tim bệnh nhân (buồng thất phải). Điện cực được nối với một máy tạo nhịp nhỏ (trọng lượng chỉ 17-25g) được cố định dưới cơ ngực. Máy tạo nhịp tim sau đó được điều chỉnh thông qua máy lập chương trình. Đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn thường được chỉ định ở những người có rối loạn nhịp chậm đi kèm với triệu chứng suy giảm tuần hoàn não cấp (choáng váng, ngất, loạn trí thoáng qua hay suy tim cấp hoặc mãn). Các chỉ định thường gặp nhất: Blốc nhĩ thất cấp II, cấp III với nhịp thất chậm < 40 lần/phút, có cơn ngất tái phát nhiều lần hoặc đã đặt tạo nhịp tạm thời không có kết quả...; Hội chứng suy nút xoang với nhịp chậm < 40 lần/phút đã có cơn ngất; Rối loạn nhịp chậm sau mổ tim; Cần dùng thuốc giảm nhịp tim và chống rối loạn nhịp.
Với những tiến bộ của khoa học hiện nay, kỹ thuật đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn đã đạt được mọi yêu cầu tối ưu về phẫu thuật cho bệnh nhân như: chỉ cần gây tê tạo chỗ khi mô, đặt điện cực vào tim qua đường tĩnh mạch nhanh chóng và an toàn, đặt máy dưới da nhanh gọn. Thời gian trung bình của một ca cấy máy tạo nhịp tim tại Viện Tim Mạch Việt Nam chỉ mất từ 30- 45 phút. Người bệnh chỉ cần nằm nghỉ 4 giờ sau mổ là có thể hoạt động nhẹ trở lại.
Trước khi tiến hành đặt máy, người bệnh được thăm khám toàn diện để khẳng định chẩn đoán lựa chọn phương thức tạo nhịp thích hợp. Sau phẫu thuật, bệnh nhân có thể trở về cuộc sống như người bình thường, chỉ cần lưu ý tránh xa những vùng phát từ tính mạnh như máy kiểm soát ở sân bay, siêu thị... Với tivi, tủ lạnh là những thiết bị cũng phát ra từ trường nhưng ở mức độ yếu, nên người bệnh vẫn có thể sử dụng như bình thường. Và quan trọng là bệnh nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt việc tái khám theo lịch hẹn của bác sĩ chuyên khoa.
Nguồn: KH&ĐS Số 99 Thứ Hai 11/12/2006








