Cây chè đắng Cao Bằng
Chè Ilex ở Việt Nam có 40 loài (thế giới có khoảng 400 loài). Đa số loài trong chi này được gọi là cây Bùikèm theo tính từ để phân biệt như Bùi ba hoa, Bùi trái to, Bùi tía, Bùi Bắc Bộ…Chúng phân bố rải rác từ miền Nam (có ở Côn Đảo) ra miền Bắc. Riêng loài I.kaushue đã phát hiện ở Lào Cai (Sa Pa), Hoà Bình (Lạc Thuỷ), Ninh Bình (Vường quốc gia Cúc Phương) và đặc biệt ở Cao Bằng (Hạ Lang, Thạch An, Quảng Hoà, Nguyên Bình…). Ngoài ra, nó cũng phân bố ở Trung Quốc (Hồ Bắc, Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Đài Loan, Hải Nam), Nhật Bản và Malaysia.
Ở Trung Quốc còn có loài Ilex latifolia Thumb, cũng gọi là Khổ đinh trà (đọc theo âm của một tên đồng nghĩa Ilex kudingcha C.J.Tseng), Đại diệp trà, Chè đắng, “Vạn Thừa”, Chè đắng “Đại Tân”… Đây là loại trà quý, đã sử dụng từ hàng ngàn năm trước đây và còn được dùng để tiến vua. Loài này được nhập về trồng ở huyện Hạ Lang (Cao Bằng) từ năm 1997 (Tạp chí KH – CN – MT Cao Bằng, 1997, tr.44 – 45).
Chè đắng Cao Bằng là cây gỗ to, cao 10 – 15m (có những cây cổ thụ sống ngoài trăm tuổi, cao hơn 20m, đường kính gốc thân đến 120 cm). Lá đơn, mọc so le, phiến lá mỏng và dai, hình bầu dục thuôn, dài 15 – 18cm, rộng 5 – 7,5cm (cây non và cành chồi có lá to hơn), mép lá có răng cưa nhỏ, gốc lá tù, đỉnh có mũi nhọn ngắn. Cuống lá dài 2 – 2,2cm. Lá non thường có màu đỏ tía. Cây có hoa đơn tính khác gốc. Cụm hoa đực dài khoảng 1cm, mang 20 – 30 hoa, có cuống mảnh, dài 4 – 5mm. Cụm hoa cái mang 3 – 9 hoa, có cuống dài 4 – 6mm. Quả hạch gần hình cầu, đường kính khoảng 1cm, khi chín đỏ, có 2 – 3 hạch. Hạt dài 7mm, rộng 4mm, mặt lưng và mặt bên có vân và rãnh hình mạng lưới.
Theo tài liệu, chúng có những đặc điểm phân biệt như sau:
Đặc điểm | Ilexkaushue | Ilex latifolia |
Lá | Mỏng, dai, 10 – 18x4,5 – 7,5cm; Gân bên nổi rõ ở cả 2 mặt. Đỉnh lá nhọn hoặc có mũi nhọn ngắn; gốc lá tù hoặc tròn. Cuống lá dài 2 – 2,2 cm. Cuống hoa có lông tơ thưa. | Dày, dai, 8 – 19 (28)x4,5 – 7,5 (9)cm; Gân bên chỉ rõ ở mặt dưới. Đỉnh lá tù hoặc có mũi nhọn ngắn; gốc lá tròn hoặc hình nêm rộng. Cuống lá dài 1,5 – 2cm. Cuống hoa nhẵn. |
Quả | Bầu và quả có lông mịn. Hình cầu, đường kính 9 – 12mm; cuống quả dài 4 – 8mm; núm nhuỵ tồn tại hình dây rốn. | Bầu và quả nhẵn. Hình cầu, đường kính 7mm. |
Hạt | Hình bầu dục thuôn, dài 7mm, rộng 4mm, vỏ hạt có vân hình mạng lưới | Hình bầu dục, dài 4mm, rộng 3mm. Lưng hạt có 3 nếp nhăn dọc theo chiều dài hạt. |
Theo công ty Cao Bằng thì loài đang được phát triển trồng và khai thác, sản xuất ra các loại sản phẩm như chè búp xoắn, chè tan, chè túi lọc, cốm trà đắng đang bán trên thị trường, đều là cây bản địa Chè đắng Cao Bằng (Ilex kaushue S.Y.Hu).
Từ lá Chè đắng Cao Bằng, Bùi Thị Bằng và cộng sự (Tạp chí Dược liệu, 6 (1): 3 – 6,2001) đã chứng minh có 5 nhòm chất là saponin triterpen (5,1 – 5,5 %, tính theo khối lượng lá khô), flavonoid (0,5 – 0,6%), polysaccharid (2,8 – 3,4%), carotenoid (5,0 – 5,8mg%, tính theo b -caroten) và axit hữu cơ. Gần đây, Nguyễn Văn Đậu và cộng sự (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 22(1): 3 – 38, 2006) cũng đã phân lập và nhận dạng được các hợp chất polyphenol là quercetin và axit dihydrocafeic.
Chè đắng có nhiều công dụng. Búp non và lá (tươi hoặc khô) để pha nước uống giải khát như trà. Uống thường xuyên có tác dụng phòng ngừa bệnh cao huyết áp, hạ mỡ máu, trợ tim, an thần, chống viêm, bảo vệ gan, giải độc, lợi mật, lợi tiểu, kích thích tiêu hoá và làm tăng sức khoẻ. Các hoạt chất trên cũng có tác dụng kháng khuẩn và chống lão hoá, làm tăng tuổi thọ. Theo tài liệu của nước ngoài, chè này còn có tác dụng giảm cân và an toàn đối với người dùng.
Nguồn: Thuốc & sức khoẻ, số 324, 15-01-2007, tr14.








