Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 19/11/2010 23:00 (GMT+7)

Câu chuyện giáo dục bịt lỗ hổng để không có tiến sĩ dởm

PV: Thưa ông, là một Giáo sư, Tiến sĩ khoa học, ông bình luận gì về tấm bằng Tiến sĩ trị giá 17 ngàn đô của ông Nguyễn Ngọc Ân – Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch tỉnh Phú Thọ?

Giáo sư - Tiến sĩ khoa học Nguyễn Xuân Hãn (NXH): Thời gian để đào tạo một TS trên thế giới trung bình phải mất khoảng 3-5 năm sau đại học chính quy, lao động vất vả không kể ngày đêm, còn kinh phí trung bình ở phương Tây hiện nay đòi hỏi đầu tư khoảng 100.000 USD. Ông Nguyễn Ngoc Ân qua công luận được biết ông vừa công tác vừa làm luận án TS với số tiền là 17 ngàn USD. Theo Điều 14 Luật Giáo dục năm 2005 ông Nguyễn Ngọc Ân phải nộp báo cáo việc làm TS và hồ sơ liên quan cho Bộ GD-ĐT để xem xét và công nhận. Nếu bằng TS của ông Ân là thật, đề nghị ông sớm được trọng dụng, còn nếu bằng TS giả phải thu hồi và chịu kỷ luật theo pháp luật.

PV: Ở Việt Nam mình có một nghịch lý, song lại rất phổ biến, đó là việc “bổ nhiệm chức vụ rồi hợp thức hóa sau”. Nghĩa là một người nào đó được tổ chức “cơ cấu” vào một chức vụ dù anh ta chưa có bằng cấp thích hợp, sau đó cơ quan sẽ tạo điều kiện để anh ta đi lấy “bằng cấp hợp thức hóa” cho vị trí của mình… Quy trình ngược này phải chăng là kẽ hở để cho ra đời nhiều Tiến sĩ giấy, nhiều nhà khoa học hữu danh vô thực?

NXH: Nghịch lý này có nhiều nguyên nhân và sinh ra nhiều hệ lụy

Nguyên tắc lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ của ta là “quy hoạch lại, rồi phân công”. TS Hà Nghiệp, từng đúc kết như vậy. Việc “quy hoạch” chúng ta có thể tạm hiểu là người cùng ekip, nó có hiệu quả trong thời chiến, song vào giai đoạn xây dựng, nguyên tắc này vẫn được duy trì nên sinh ra sự bất cập và tiêu cực: việc làm vừa ý bên trên để vào diện quy hoạch được xem trọng hơn, việc thực thi nhiệm vụ được giao phó do thực tế cuộc sống đặt ra, hay yêu cầu và nguyện vọng của người dân. Xin dẫn một ví dụ, đầu tư của Nhà nước và dân cho giáo dục đào tạo ngày càng tăng nhưng chất lượng giáo dục ngày càng giảm sút, càng đổi mới giáo dục càng rối và lệ thuộc vào bên ngoài (sao chép chương trình giáo dục của Thái Lan trước đây và nhập khẩu chương trình, mô hình đại học của nước ngoài hiện nay là các ví dụ ai cũng biết) và các ý kiến của người dân bị bỏ qua. “Theo tính toán chuyên gia của Bộ GD-ĐT, cách đây 20 năm - trung bình có 300 bài viết/tháng (không kể tin về giáo dục trên phương tiện thông tin đại chúng), thì ngày nay có 1000 bài/tháng, mổ xẻ đến nơi đến chốn” về những bất cập trong quản lý điều hành GD-ĐT, nhưng người có trách nhiệm vẫn không thấy rõ vấn đề? ( Vietnamnetngày 8/02/2010). Hơn 20 năm qua hàng chục vạn bài báo về giáo dục bị rơi vào quên lãng, trong khi ở mọi nơi và mọi lúc ta luôn nghe câu nói “giáo dục của ta là nền giáo dục của dân, do dân và vì dân”.

Chúng ta mải mê đặt ra nhiều tiêu chuẩn “quy hoạch” cán bộ tin dùng mà xem nhẹ yêu cầu thực tiễn và người tài năng nếu không được vào diện quy hoạch. Nhìn ra thế giới, câu nói “mèo trắng mèo đen không quan trọng miễn là bắt được chuột” trong lựa chọn cán bộ được coi là triết lý đổi mới, và mang lại hiệu quả thật.

Việc chuẩn hóa cán bộ chủ chốt của Hà Nội phải có bằng TS là một ví dụ điển hình khác về sự nhầm lẫn trong nhận thưc về công tác đào tạo. Người có bằng TS ở nhiều nước được người ta gọi và tôn vinh là bác học, nghề nghiệp chính là công việc sáng tạo - làm ra tri thức mới, nó khác xa với những người làm quan, hay nói đúng hơn là các nhà quản lý các cấp. Hiện nay trên thế giới, tôi xin khẳng định không có nước nào có mục tiêu đào tạo Tiến sỹ để làm quan! Ở nước ta theo nghiên cứu 70 % số người có bằng TS chuyển sang làm quản lý, do thiếu thời gian và làm nghiên cứu vất vả, nên sau đó là bỏ khoa học. Trong văn hóa Á Đông về hiện tượng này nhà văn Lỗ Tấn đã ví tấm bằng như “hòn gạch gõ vào chốn quan trường, gõ xong, cửa mở rồi bằng vứt đi”.

Sau chiến tranh, rồi tiếp đến bao cấp, cả xã hội bị hành chính hóa, quan liêu nở rộ. Về lương chỉ có các bậc lương hành chính chứ chưa có các bậc lương cho những người làm chuyên môn. Một người có bằng đại học, trở thành chuyên viên cao cấp được xếp vào thang bậc lương GS. Lương bình quân của lãnh đạo Tổng công ty kinh doanh vốn Nhà nước ( SCIC) khoảng 80 triệu đồng / tháng (4500 USD/tháng ), bằng lương cả năm của một GS ở các trường đại học. Ngược lại, bên Trung Quốc lương của quan chức Nhà nước cao nhất Trung Quốc khoảng 500 USD/tháng, nhưng lương cho GS lại từ (1000 -2000) USD/tháng trở lên. Sự so sánh như vậy có thể là khâp khiễng, nhưng trên danh nghĩa về góc độ nào đó trí thức ở Trung Quốc đang được đánh giá cao hơn trí thức ở nước ta.

PV: Thưa ông, để ngăn chặn những loại bằng cấp đó, xã hội có phương thức nào giúp kiểm chứng bằng cấp là thật hay “đểu” không? Vì trong trường hợp của ông Ân, một quan chức cấp Tỉnh ủy tỉnh Phú Thọ đã khẳng định: Ông Ân trình bằng là bằng thật?

NXH: Theo tiêu chuẩn quốc tế một luận án TS đạt chuẩn, phải có ít nhất là hai công trình đăng ở tạp chí chuyên ngành được quốc tế thừa nhận. Hiện nay tiêu chuẩn này đã được thiết lập cho khoảng 55 ngành khoa học khác nhau, bao gồm các ngành tự nhiên, xã hội, kể cả lĩnh vực tôn giáo.

Một luận án mà không có công trình được đăng, thì văn bằng TS không đạt chuẩn. Bên cạnh những TS thật mà các nước bạn bè XHCN đào tạo giúp ta, có tồn tại một số TS “hữu nghị”, có bằng TS thật, nhưng luận án TS không có bài báo được công bố, hay các bài ở các tạp chí không đạt chuẩn mực học thuật quốc tế. Nói một cách hình ảnh, một nhà văn mà không có tác phẩm được công nhận, thì không được gọi là nhà văn, hay nhà văn “rởm”.

Việc xác nhận lại văn bằng TS thật giả của ông Nguyễn Ngọc Ân và các bằng của người khác sẽ diễn ra nhanh chóng. Ông Ân phải báo cáo việc làm TS và nộp cho Bộ GD&ĐT bằng cấp, danh sách công trình nghiên cứu, các giấy tờ liên quan đến quá trình đào tạo. Việc này không quá khó khăn. Nếu cần có thể lập một hội đồng các nhà khoa học để kiểm chứng, tuy nhiên theo tôi cũng không cần thiết. Nếu bằng TS của ông Ân là bằng thật, thì ông phải được trọng dụng, còn nếu bằng TS của ông là bằng giả thì chúng ta thu hồi và đề nghị Nhà nước nên chấm dứt việc đào tạo như thế này.

PV: Trở lại với nghịch lý “Hợp thức hóa bằng cấp” trong bổ nhiệm chức vụ, Bộ GD&ĐT đặt ra chỉ tiêu đến năm 2020 sẽ đào tạo xong 20.000 Tiến sĩ với khoản kinh phí chừng 14.000 tỷ đồng. Điều này đã không nhận được sự đồng thuận từ phía xã hội. Lý do có thể được hiểu là người dân thực sự lo ngại “tiền công quỹ bị coi như rác” khi bỏ ra đào tạo một Tiến sĩ cỡ như ông Ân… Còn ông, ông nghĩ sao, thưa ông?

NXH: Đề nghị hoãn đề án đào tạo 20.000 TS vì nó chưa hội tụ đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn.

Đề án đào tạo 20.000 TS là việc cụ thể hóa Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về “Đổi mới cơ bản giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020” . Theo Điều 87 của Luật GD năm 1998, hay Điều 100 của Luật GD năm 2005, thì vấn đề đổi mới giáo dục đại học phải có ý kiến của Quốc hội phê chuẩn, song trên thực tế việc này chưa diễn ra. Không những thế, nội dung trong Đề án đổi mới giáo dục đại học, xin lưu ý, còn không ít điều đi ngược lại tinh thần của Điều 36 Hiến pháp năm 2002… Việc mở ồ ạt các trường ĐH &CĐ (dự kiến đến 2020 sẽ có 900 trường ĐH &CĐ với kinh phí 20 tỷ USD ra đời vào năm 2005, nay còn 600 trường ĐH &CĐ, thực tế nay đã có khoảng 450 trường ĐH &CĐ) có nguồn gốc từ Nghị quyết này, mà Quốc hội kỳ họp vừa qua đặt vấn đề phải chấn chỉnh, chẳng lẽ không phải là bài học cho chúng ta rút kinh nghiệm? .

Thực tế, trong 65 năm qua, kể từ khi nước nhà giành được độc lập, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các nước bè bạn và nỗ lực của các cơ sở đào tạo trong nước đến nay ta mới có khoảng 15.000 TS (trong đó có khoảng 5.000 TS từ nước ngoài về), vậy trong vòng 10 năm nữa làm sao có 2 vạn TS. Sinh thời nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có thư gửi cho những người có trách nhiệm (10/4/2001), cùng với bài báo nói về Trung tâm viết thuê luận án TS ở nước ta ( Báo Thanh niên9/4/2001) Phải chăng ta muốn có 2 vạn bằng TS như kiểu ông Ân?

Theo số liệu nghiên cứu hàng năm trên thế giới có khoảng 80 vạn bài báo khoa học được ghi nhận, và 100 nghìn phát minh sáng chế được cấp bằng. Về dân số Việt Nam xếp hàng thứ 13, nhưng số lượng công bố khoa học của nước ta khoảng 700 bài (khoảng 1/1000 ) và số lượng bằng phát minh sáng chế còn đếm trên đầu ngón tay. Với số lượng sản phẩm khoa học như vậy, nếu ta có kế hoạch đạo đào tạo khoảng 200 TS/năm là khả thi, còn đào tạo với số lượng nhiều hơn, sẽ có TS không đạt chuẩn, chưa nói là TS RỞM.

Trước khi lo đào tạo ồ ạt TS, xin hãy biết trọng dụng những TS thật đã có, hiện nay TS bỏ chuyên môn do không được trọng dụng không phải là hiếm!

PV: Thưa ông, là người tâm huyết với giáo dục, hẳn ông sẽ lo ngại về các chương trình “liên kết” tại Việt Nam, theo ông cần phải làm gì để bảo vệ “người tiêu dùng trong giáo dục”?

NXH: Có hai việc phải làm ngay, thay đổi nguyên tắc lựa chọn và sử dụng người tài, thay đổi cách quản lý người có bằng TS theo tiêu chuẩn quốc tế

Thứ nhất ta đang có đợt vận động học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tại sao việc coi trọng trí thức và sử dụng nhân tài của Bác ta chỉ nói chứ không thấy vận dụng? Trong bài “Tìm người tài đức” ngày 20/11/1946, Bác viết: “Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp đến nổi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó, tôi xin thừa nhận”. Chương trình là cốt lõi của nền học, SGK là tài liệu mang tính pháp lý trong dạy và học, nhưng gần 30 năm nay đã tốn hàng tỷ USD, nhưng vấn đề này vẫn không giải quyết được, đang là thách thức của dân tộc. Chương trình chuẩn chính thức của Nhà nước từ phổ thông đến đại học đến nay vẫn chưa hề có, nghịch lý bội thực sách ở bậc phổ thông, đói sách học chay ở bậc ĐH chưa biết bao giờ mới kết thúc ? Giải pháp khoa học giải quyết dứt điểm vấn đề này cho giáo dục với kinh phí khoảng 100 tỷ đồng đã được tất cả các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, song chỉ có người có trách nhiệm là không biết ?

Người có bằng TS ở nước ta được hưởng thụ cả đời, còn các nước tiên tiến tấm bằng TS có giá trị 2 năm. Người có bằng TS, năm nào cũng đòi hỏi có công bố khoa học, nếu sau 2 năm anh không có công trình khoa học nào được công bố, tấm bằng TS của anh không bị thu hồi, nhưng không còn giá tri với giới học thuật! .

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.