Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 28/12/2010 20:53 (GMT+7)

Cần tổ chức lại không gian biển cho phát triển kinh tế

Năng lực nội sinh và nhu cầu nội vùng ở dải ven biển nước ta cũng rất đáng kể, tập trung các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái quan trọng bậc nhất, tập trung khoảng trên 50% dân số cả nước (tính cho các tỉnh ven biển) và khoảng 30% (tính cho các huyện ven biển); khoảng 50% các đô thị lớn với kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và nhiều khu công nghiệp lớn đang được đầu tư phát triển mạnh, trong đó có 3 vùng kinh tế trọng điểm quốc gia. Một dải đất hẹp và bờ biển dài như vậy vừa có lợi thế “mặt tiền” trong phát triển, vừa xung yếu về mặt phòng thủ đất nước khi xảy ra chiến tranh. Để phát huy thế mạnh và hạn chế điểm yếu, việc đa dạng hóa các loại hình phát triển đối với các vùng tự nhiên, sinh thái ven biển khác nhau về bản chất là một nhiệm vụ mang tầm chiến lược.

Phát triển dải ven biển nhằm tạo động lực lan tỏa, hỗ trợ phát triển vùng trung du - miền núi, đồng thời tạo cơ sở cho phát triển một nền kinh tế biển vững chắc và lâu dài. Đặc biệt nên chú ý phát triển dịch vụ cảng “quá cảnh” dối với các nước hoặc vùng lãnh thổ không có biển lân cận nước ta và vùng nội địa rộng lớn của khu vực các nước ASEAN, cũng như các dịch vụ hàng hải và tìm kiếm cứu hạn trên biển Đông. Điều này tạo tiền đề cho việc hoạch định một chiến lược kinh tế biển tầm cỡ gắn với một nền quốc phòng và an ninh trên biển vững chắc phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển. Dải ven biển là “bàn đạp” để tiến ra biển, là hậu phương hỗ trợ các hoạt động trên biển xa thông qua các trung tâm kinh tế hải đảo. Cho nên, dọc ven biển phải kiến tạo được một số “cực phát triển” mạnh (trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội… tức là các đô thị ven biển) có bán kính ảnh hưởng rộng ra biển, có khả năng đối trọng với các cực phát triển lớn trong khu vực biển Đông và các hành lang/ tam giác kinh tế tăng trưởng ven biển, tạo động lực lan tỏa và lôi kéo không chỉ nội vùng và lân cận mà còn vào sâu nội địa và lan xa ngoài biển.

Vùng ven bờ cũng là mảng không gian cực kỳ quan trọng đối với phát triển kinh tế thủy sản bền vững. Đây là nơi cư trú tự nhiên, nơi sinh đẻ và ươm nuôi ấu trùng của nhiều loại thủy sinh vật không chỉ ở ngay vùng bờ mà còn từ ngoài khơi vào theo mùa (90% loài thủy sinh vật biển sống ở vùng biển thềm lục đại và biển xa có tập tính gắn bó với vùng nước ven bờ). Các hệ sinh thái quan trọng như: rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn… đều tập trung ở vùng này đã cung cấp tiềm năng bảo tòn đa dạng sinh học (DDSH) biển và nguồn giống hải sản tự nhiên cho nghề khai thác và nuôi trồng thủy hải sản. Chúng có tính liên kết sinh thái mật thiết với nhau và tạo ra những “dây xích sinh thái” quan trọng đối với toàn vùng biển mà một trong các mắt xích bị tác động sẽ ảnh hưởng đến các mắt xích còn lại.

Vùng biển rộng lớn ở phía ngoài là không gian phát triển các hoạt đông hàng hải và khai thác dầu khí ở thềm lục địa, đồng thời sẽ là nơi diễn ra các hoạt động hợp tác và hội nhập kinh tế biển sôi động hơn, nhất là khi nước ta trở thành thành viên của WTO. Biển là cửa mở của quốc gia để giao lưu quốc tế nhưng vẫn cần chủ động “mở cửa” để hội nhập quốc tế trên biển, để góp phần xây dựng biển Đông thành “khu vực biển hòa bình” và để tăng cường lợi ích quốc gia trên biển. Vùng này cũng là không gian phát triển của nghề cá đa loài với đặc trưng nổi bật nhất là quanh năm đều có cá đẻ. Đây là nơi để phát triển nghề đánh bắt hải sản với số lượng tàu thuyền khá lớn, khoảng 10.000 chiếc hoạt động hàng ngày trên biển, cho nên ngư dân là lực lượng duy nhất vừa làm kinh tế vừa góp phần bảo vệ an ninh vùng biển tổ quốc. Nếu như trên đất liền khả năng canh tác chỉ đạt đến độ sâu khoảng 1,5 m (đối với cây có củ) thì ở dưới biển con người có thể nuôi hải sản trong lồng đến độ sâu hàng 100 mét. Nhìn từ giác độ như vậy thì tiềm năng nuôi thủy sản ở biển nước ta còn khá lớn, nhưng xuất đầu tư cần phải cao hơn mức hiện nay và phải xác định được đối tượng nuôi chủ lực. Sắp tới có thể tận dụng không gian biển trong phạm vi các công trình giàn khoan dầu khí, các công trình biển khác để xúc tiến việc nuôi cá biển lồng bè. Bên cạnh đó, cần nắm vững đặc trưng của các “yếu tố đại dương” của biển Việt Nam để tận dụng phát triển nghề đánh bắt một số loài đặc sản di cư theo mùa vào vùng ven bờ nước ta như cá ngừ đại dương.. Phát triển không gian kinh tế biển phải gắn chặt với kinh tế hải đảo và các trung tâm kinh tế ở vùng ven biển, đồng thời bảo vệ môi trường biển.

Với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở vùng ven bờ và các phần đảo ngoài khơi thuộc quyền tài phán quốc gia, nước ta có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế hải đảo. Có thể coi mỗi đảo là một “thỏi bạc”, bên cạnh các giá trị cảnh quan nổi, quanh đảo còn quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi hải sản, đối với phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển. Trên các đảo có các làng cá, du lịch văn hóa, lịch sử thuần Việt phản ánh “văn hóa làng chài” và “văn minh biển cả”… góp phần tạo ra các giá trị du lịch nghề cá mà đến nay chưa được khai thác và phát triển theo đúng nghĩa của nó. Không ít đảo có lợi thế địa lý, có thể xây dựng thành trung tâm kinh tế hải đảo với cơ sở hậu cần nghề cá và du lịch biển xa hiện đại. Đặc biệt, trong vùng quần đảo san hô Trường Sa có khoảng gần 1.000.000 ha đầm phá nông (độ sâu 1 - 6m) thuộc các rạn san hô vòng có môi trường thuận lợi cho nuôi hải sản. Gần đây, người ta đã phân hạng 10 đảo có giá đắt nhất thế giới, trong khi ở nước ta các đảo đang được khai thác một cách tự phát theo kiểu “mạnh ai nấy làm, thấy gì khai thác cái đó”, hoàn toàn trực quan, thiếu quy hoạch và thiếu cơ sở khoa học. Do đó cần xác định thế mạnh của từng đảo hoặc cụm đảo theo chức năng và tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế hải đảo. Quy hoạch phát triển kinh tế hải đảo cần đặt trong tư duy tổng thể phát triển hệ thống đảo trong từng vùng biển, cũng như phải nhìn nhận việc sử dụng đảo cả ở giác độ địa kinh tế, địa chính trị và các khía cạnh xã hội. Đối với các cụm đảo có các đảo lớn, đông dân như Phú Quốc, Vân Đồn, Côn Đảo, Cát Bà, Lý Sơn… thì xây dựng thành các trung tâm kinh tế hải đảo toàn diện, dưới dạng các khu “kinh tế mở” hướng biển để tạo bán kính ảnh hưởng rộng ra vùng xung quanh và sẽ là các “cực phát triển tiếp nối” quan trọng trong bình đổ tổ chức không gian toàn vùng biển.

Mặc dù rất giầu tiềm năng và đa dạng loại hình phát triển nhưng hoạt động kinh tế biển nước ta vẫn chủ yếu loanh quanh và bó hẹp ở “ao nhà”, chưa tham gia hoặc mở rộng hoạt động ra khỏi hải phận quốc gia để “tiến ra biển lớn”. Không thể có nền kinh tế biển hiệu quả và mạnh, có tính cạnh tranh cao nếu bỏ qua yếu tố dịch vụ quốc tế nói chung (tập đoàn kinh tế mạnh) và hoạt động dịch vụ của từng ngành/ lĩnh vực kinh tế biển nói riêng. Trên thế giới, giá trị dịch vụ ngoài biên giới quốc gia (vùng biển quốc tế, hoạt động viễn dương và khai thác đại dương)… của nền kinh tế biển chiếm phần rất quan trọng, nếu chưa muốn nói là quyết định. Xu thế phát triển như vậy sẽ góp phần giảm mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên biển ở dạng thô, tươi sống trong vùng biển quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng và thực phẩm của quốc gia, góp phần phát triển bền vững. Chính vì thế, khi nước ta đã chính thức bước vào sân chơi quốc tế thì cũng phải thực sự chuẩn bị lại đội hình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm đủ sức cạnh tranh làm ăn trên thương trường thế giới.

Các giá trị của không gian biển, ven biển thường ở dạng tiềm năng, nhưng khi chúng ta đưa tiềm năng này vào một bình đồ phát triển cụ thể (tổ chức không gian) thì tiềm năng sẽ trở thành tài nguyên vị thế, các giá trị mới được phát huy. Trên bình đồ tổ chức không gian biển hiện nay có: ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia (2 tam giác kinh tế và một hành lang kinh tế). Hệ thống cảng biển quy hoạch đến năm 2010 cũng đang được triển khai tích cực, một số đảo cũng bắt đầu được xác định phát triển thành các trung tâm kinh tế hải đảo trong tương lai. Các trung tâm du lịch ven biển cũng bắt đầu được hình thành. Tuy nhiên, vẫn chưa xác định rõ đâu là các cực phát triển và các tuyến lực mạnh ở ven biển trong ba vùng cũng như ngoài ba vùng này (chưa có nghiên cứu và tính toán riêng). Trong khi, dọc ven biển phía bắc vịnh Bắc bộ và tỉnh Hải Nam thuộc Trung Quốc đã hình thành các cực phát triển rất mạnh, đặc biệt là Hải Nam, với bán kính ảnh hưởng (dự kiến đến 2020) ra toàn vùng biển Đông và các nước bắc ASEAN. Ở phía nam với chủ trương tăng cường hội nhập khu vực, ASEAN bắt đầu mở rộng và hoàn thiện hệ thống giao thương xuyên ASEAN để gia tăng ảnh hưởng vào khu vực biển Đông. Trong bối cảnh như vậy, thành phố Đà Nẵng phải trở thành không chỉ một cực phát triển mạnh ở hành lang kinh tế miền Trung (từ Huế đến Quy Nhơn) và ven biển Việt Nam mà còn là cực đối trọng chính của ASEAN ảnh hưởng về phía biển Đông và các nước Đông Nam Á. Như vậy, Đà Nẵng sẽ phải xác định rõ chức năng và mục tiêu phát triển đến 2020 là trở thành một cực phát triển có bán kính ảnh hưởng có thể đối trọng được với cực Hải Nam, Trung Quốc. Được như vậy thì đến năm 2020 Vịnh Bắc bộ sẽ trở thành khu vực biển phát triển năng động trên thế giới.

Để đạt được như vậy, trên bình diện quốc gia cần phải đầu tư cho một số cực phát triển khác ở ven biển và các đảo có điều kiện để “tiếp lực và cộng hưởng với Đà Nẵng ra phía Vịnh Bắc Bộ, trước hết là, thành phố Hải Phòng, Hạ Long, Móng Cái, quần đảo Cô Tô, Vân Đồng, Bạch Long Vỹ… Còn để “tiếp lực và cộng hưởng” với Đà Nẵng ra phía biển Đông Á, Hoàng Sa cần phải đầu tư cho một số cực phát triển khác ở ven biển Bắc Trung bộ và trên biển như thành phố Huế, Chu Lai, Quy Nhơn, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Côn Đảo và phía Nam như Phú Quốc. Ưu tiên xây dựng các khu kinh tế mở ven biển và các đảo ven bờ.

Trên cơ sở bình đồ tổ chức không gian biển - ven biển, cần tiến hành phân vùng chức năng cho từng đối tượng cụ thể, tính toán đầy đủ các nguồn lực (nội lực, ngoại lực) phát thảo mô hình và đề xuất cơ chế, chính sách để huy động mọi nguồn lực thực hiện.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.