Cần tổ chức lại không gian biển cho phát triển kinh tế
Năng lực nội sinh và nhu cầu nội vùng ở dải ven biển nước ta cũng rất đáng kể, tập trung các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái quan trọng bậc nhất, tập trung khoảng trên 50% dân số cả nước (tính cho các tỉnh ven biển) và khoảng 30% (tính cho các huyện ven biển); khoảng 50% các đô thị lớn với kết cấu hạ tầng ngày càng hiện đại và nhiều khu công nghiệp lớn đang được đầu tư phát triển mạnh, trong đó có 3 vùng kinh tế trọng điểm quốc gia. Một dải đất hẹp và bờ biển dài như vậy vừa có lợi thế “mặt tiền” trong phát triển, vừa xung yếu về mặt phòng thủ đất nước khi xảy ra chiến tranh. Để phát huy thế mạnh và hạn chế điểm yếu, việc đa dạng hóa các loại hình phát triển đối với các vùng tự nhiên, sinh thái ven biển khác nhau về bản chất là một nhiệm vụ mang tầm chiến lược.
Phát triển dải ven biển nhằm tạo động lực lan tỏa, hỗ trợ phát triển vùng trung du - miền núi, đồng thời tạo cơ sở cho phát triển một nền kinh tế biển vững chắc và lâu dài. Đặc biệt nên chú ý phát triển dịch vụ cảng “quá cảnh” dối với các nước hoặc vùng lãnh thổ không có biển lân cận nước ta và vùng nội địa rộng lớn của khu vực các nước ASEAN, cũng như các dịch vụ hàng hải và tìm kiếm cứu hạn trên biển Đông. Điều này tạo tiền đề cho việc hoạch định một chiến lược kinh tế biển tầm cỡ gắn với một nền quốc phòng và an ninh trên biển vững chắc phù hợp với xu thế phát triển của một quốc gia biển. Dải ven biển là “bàn đạp” để tiến ra biển, là hậu phương hỗ trợ các hoạt động trên biển xa thông qua các trung tâm kinh tế hải đảo. Cho nên, dọc ven biển phải kiến tạo được một số “cực phát triển” mạnh (trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội… tức là các đô thị ven biển) có bán kính ảnh hưởng rộng ra biển, có khả năng đối trọng với các cực phát triển lớn trong khu vực biển Đông và các hành lang/ tam giác kinh tế tăng trưởng ven biển, tạo động lực lan tỏa và lôi kéo không chỉ nội vùng và lân cận mà còn vào sâu nội địa và lan xa ngoài biển.
Vùng ven bờ cũng là mảng không gian cực kỳ quan trọng đối với phát triển kinh tế thủy sản bền vững. Đây là nơi cư trú tự nhiên, nơi sinh đẻ và ươm nuôi ấu trùng của nhiều loại thủy sinh vật không chỉ ở ngay vùng bờ mà còn từ ngoài khơi vào theo mùa (90% loài thủy sinh vật biển sống ở vùng biển thềm lục đại và biển xa có tập tính gắn bó với vùng nước ven bờ). Các hệ sinh thái quan trọng như: rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn… đều tập trung ở vùng này đã cung cấp tiềm năng bảo tòn đa dạng sinh học (DDSH) biển và nguồn giống hải sản tự nhiên cho nghề khai thác và nuôi trồng thủy hải sản. Chúng có tính liên kết sinh thái mật thiết với nhau và tạo ra những “dây xích sinh thái” quan trọng đối với toàn vùng biển mà một trong các mắt xích bị tác động sẽ ảnh hưởng đến các mắt xích còn lại.
Vùng biển rộng lớn ở phía ngoài là không gian phát triển các hoạt đông hàng hải và khai thác dầu khí ở thềm lục địa, đồng thời sẽ là nơi diễn ra các hoạt động hợp tác và hội nhập kinh tế biển sôi động hơn, nhất là khi nước ta trở thành thành viên của WTO. Biển là cửa mở của quốc gia để giao lưu quốc tế nhưng vẫn cần chủ động “mở cửa” để hội nhập quốc tế trên biển, để góp phần xây dựng biển Đông thành “khu vực biển hòa bình” và để tăng cường lợi ích quốc gia trên biển. Vùng này cũng là không gian phát triển của nghề cá đa loài với đặc trưng nổi bật nhất là quanh năm đều có cá đẻ. Đây là nơi để phát triển nghề đánh bắt hải sản với số lượng tàu thuyền khá lớn, khoảng 10.000 chiếc hoạt động hàng ngày trên biển, cho nên ngư dân là lực lượng duy nhất vừa làm kinh tế vừa góp phần bảo vệ an ninh vùng biển tổ quốc. Nếu như trên đất liền khả năng canh tác chỉ đạt đến độ sâu khoảng 1,5 m (đối với cây có củ) thì ở dưới biển con người có thể nuôi hải sản trong lồng đến độ sâu hàng 100 mét. Nhìn từ giác độ như vậy thì tiềm năng nuôi thủy sản ở biển nước ta còn khá lớn, nhưng xuất đầu tư cần phải cao hơn mức hiện nay và phải xác định được đối tượng nuôi chủ lực. Sắp tới có thể tận dụng không gian biển trong phạm vi các công trình giàn khoan dầu khí, các công trình biển khác để xúc tiến việc nuôi cá biển lồng bè. Bên cạnh đó, cần nắm vững đặc trưng của các “yếu tố đại dương” của biển Việt Nam để tận dụng phát triển nghề đánh bắt một số loài đặc sản di cư theo mùa vào vùng ven bờ nước ta như cá ngừ đại dương.. Phát triển không gian kinh tế biển phải gắn chặt với kinh tế hải đảo và các trung tâm kinh tế ở vùng ven biển, đồng thời bảo vệ môi trường biển.
Với hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ phân bố tập trung ở vùng ven bờ và các phần đảo ngoài khơi thuộc quyền tài phán quốc gia, nước ta có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế hải đảo. Có thể coi mỗi đảo là một “thỏi bạc”, bên cạnh các giá trị cảnh quan nổi, quanh đảo còn quy tụ các hệ sinh thái quan trọng đối với nguồn lợi hải sản, đối với phát triển nghề cá và du lịch sinh thái biển. Trên các đảo có các làng cá, du lịch văn hóa, lịch sử thuần Việt phản ánh “văn hóa làng chài” và “văn minh biển cả”… góp phần tạo ra các giá trị du lịch nghề cá mà đến nay chưa được khai thác và phát triển theo đúng nghĩa của nó. Không ít đảo có lợi thế địa lý, có thể xây dựng thành trung tâm kinh tế hải đảo với cơ sở hậu cần nghề cá và du lịch biển xa hiện đại. Đặc biệt, trong vùng quần đảo san hô Trường Sa có khoảng gần 1.000.000 ha đầm phá nông (độ sâu 1 - 6m) thuộc các rạn san hô vòng có môi trường thuận lợi cho nuôi hải sản. Gần đây, người ta đã phân hạng 10 đảo có giá đắt nhất thế giới, trong khi ở nước ta các đảo đang được khai thác một cách tự phát theo kiểu “mạnh ai nấy làm, thấy gì khai thác cái đó”, hoàn toàn trực quan, thiếu quy hoạch và thiếu cơ sở khoa học. Do đó cần xác định thế mạnh của từng đảo hoặc cụm đảo theo chức năng và tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế hải đảo. Quy hoạch phát triển kinh tế hải đảo cần đặt trong tư duy tổng thể phát triển hệ thống đảo trong từng vùng biển, cũng như phải nhìn nhận việc sử dụng đảo cả ở giác độ địa kinh tế, địa chính trị và các khía cạnh xã hội. Đối với các cụm đảo có các đảo lớn, đông dân như Phú Quốc, Vân Đồn, Côn Đảo, Cát Bà, Lý Sơn… thì xây dựng thành các trung tâm kinh tế hải đảo toàn diện, dưới dạng các khu “kinh tế mở” hướng biển để tạo bán kính ảnh hưởng rộng ra vùng xung quanh và sẽ là các “cực phát triển tiếp nối” quan trọng trong bình đổ tổ chức không gian toàn vùng biển.
Mặc dù rất giầu tiềm năng và đa dạng loại hình phát triển nhưng hoạt động kinh tế biển nước ta vẫn chủ yếu loanh quanh và bó hẹp ở “ao nhà”, chưa tham gia hoặc mở rộng hoạt động ra khỏi hải phận quốc gia để “tiến ra biển lớn”. Không thể có nền kinh tế biển hiệu quả và mạnh, có tính cạnh tranh cao nếu bỏ qua yếu tố dịch vụ quốc tế nói chung (tập đoàn kinh tế mạnh) và hoạt động dịch vụ của từng ngành/ lĩnh vực kinh tế biển nói riêng. Trên thế giới, giá trị dịch vụ ngoài biên giới quốc gia (vùng biển quốc tế, hoạt động viễn dương và khai thác đại dương)… của nền kinh tế biển chiếm phần rất quan trọng, nếu chưa muốn nói là quyết định. Xu thế phát triển như vậy sẽ góp phần giảm mức độ khai thác, sử dụng tài nguyên biển ở dạng thô, tươi sống trong vùng biển quốc gia, bảo đảm an ninh năng lượng và thực phẩm của quốc gia, góp phần phát triển bền vững. Chính vì thế, khi nước ta đã chính thức bước vào sân chơi quốc tế thì cũng phải thực sự chuẩn bị lại đội hình theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm đủ sức cạnh tranh làm ăn trên thương trường thế giới.
Các giá trị của không gian biển, ven biển thường ở dạng tiềm năng, nhưng khi chúng ta đưa tiềm năng này vào một bình đồ phát triển cụ thể (tổ chức không gian) thì tiềm năng sẽ trở thành tài nguyên vị thế, các giá trị mới được phát huy. Trên bình đồ tổ chức không gian biển hiện nay có: ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia (2 tam giác kinh tế và một hành lang kinh tế). Hệ thống cảng biển quy hoạch đến năm 2010 cũng đang được triển khai tích cực, một số đảo cũng bắt đầu được xác định phát triển thành các trung tâm kinh tế hải đảo trong tương lai. Các trung tâm du lịch ven biển cũng bắt đầu được hình thành. Tuy nhiên, vẫn chưa xác định rõ đâu là các cực phát triển và các tuyến lực mạnh ở ven biển trong ba vùng cũng như ngoài ba vùng này (chưa có nghiên cứu và tính toán riêng). Trong khi, dọc ven biển phía bắc vịnh Bắc bộ và tỉnh Hải Nam thuộc Trung Quốc đã hình thành các cực phát triển rất mạnh, đặc biệt là Hải Nam, với bán kính ảnh hưởng (dự kiến đến 2020) ra toàn vùng biển Đông và các nước bắc ASEAN. Ở phía nam với chủ trương tăng cường hội nhập khu vực, ASEAN bắt đầu mở rộng và hoàn thiện hệ thống giao thương xuyên ASEAN để gia tăng ảnh hưởng vào khu vực biển Đông. Trong bối cảnh như vậy, thành phố Đà Nẵng phải trở thành không chỉ một cực phát triển mạnh ở hành lang kinh tế miền Trung (từ Huế đến Quy Nhơn) và ven biển Việt Nam mà còn là cực đối trọng chính của ASEAN ảnh hưởng về phía biển Đông và các nước Đông Nam Á. Như vậy, Đà Nẵng sẽ phải xác định rõ chức năng và mục tiêu phát triển đến 2020 là trở thành một cực phát triển có bán kính ảnh hưởng có thể đối trọng được với cực Hải Nam, Trung Quốc. Được như vậy thì đến năm 2020 Vịnh Bắc bộ sẽ trở thành khu vực biển phát triển năng động trên thế giới.
Để đạt được như vậy, trên bình diện quốc gia cần phải đầu tư cho một số cực phát triển khác ở ven biển và các đảo có điều kiện để “tiếp lực và cộng hưởng với Đà Nẵng ra phía Vịnh Bắc Bộ, trước hết là, thành phố Hải Phòng, Hạ Long, Móng Cái, quần đảo Cô Tô, Vân Đồng, Bạch Long Vỹ… Còn để “tiếp lực và cộng hưởng” với Đà Nẵng ra phía biển Đông Á, Hoàng Sa cần phải đầu tư cho một số cực phát triển khác ở ven biển Bắc Trung bộ và trên biển như thành phố Huế, Chu Lai, Quy Nhơn, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Côn Đảo và phía Nam như Phú Quốc. Ưu tiên xây dựng các khu kinh tế mở ven biển và các đảo ven bờ.
Trên cơ sở bình đồ tổ chức không gian biển - ven biển, cần tiến hành phân vùng chức năng cho từng đối tượng cụ thể, tính toán đầy đủ các nguồn lực (nội lực, ngoại lực) phát thảo mô hình và đề xuất cơ chế, chính sách để huy động mọi nguồn lực thực hiện.








