Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 19/04/2006 00:49 (GMT+7)

Cần đánh giá khách quan về đội ngũ GS, PGS

Tôi tán thành với ý kiến cho rằng, việc xét các chức danh giáo sư (GS) và phó giáo sư (PGS) hiện nay ở Việt Nam vừa phức tạp, nhiêu khê nhưng vừa có nhiều kẽ hở để một số người không hoặc chưa đủ tiêu chuẩn “lọt sổ” như trường hợp ông Trịnh Xuân Dũnglà một ví dụ. Tuy nhiên, tôi không tán thành với ý kiến của một số người nói rằng số lượng GS và PGS ở Việt Namhiện nay quá nhiều và chất lượng của đội ngũ GS và PGS Việt Nam quá kém, khi họ không dựa trên bất cứ một kết quả khảo sát nào cả.

Về vấn đề thứ nhất, một số người thuờng nói một cách lấy được rằng số lượng GS và PGS (thậm chí cả tiến sỹ) của Việt Nam cao hơn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới nhưng hầu như tôi chưa thấy họ đưa ra bất kỳ một số liệu nào để chứng minh? Thực tế như thế nào?

Tôi không có đủ số liệu của tất cả các nước và các trường đại học trên thế giới, chỉ xin lấy số liệu của 2 trường đại học hàng đầu của Hàn Quốc và Việt Nam là Đại học Quốc Gia Seoul và Đại học Quốc gia Hà Nội để so sánh.

Theo số liệu thống kê mới nhất đăng trên website của hai trường, Đại học Quốc gia Seoul có 32.000 sinh viên và 1.784 giảng viên, trong đó có 1.003 GS, 403 PGSđương nhiệm (ngoài ra còn có 111 giáo sư thỉnh giảng). Trong khi đó, Đại học quốc gia Hà Nội có trên 46.000 sinh viên (20.000 hệ chính quy, và 26.000 hệ tại chức) nhưng chỉ có 1.548 giảng viên, với 108 GS249 PGS,trong đó phần lớn đã xấp xỉ tuổi nghỉ hưu.

Như vậy, trong khi số sinh viên của ĐHQG Hà Nội gần gấp rưỡi ĐHQG Seoul , thì số GS chỉ bằng 1/10 và số PGS chỉ bằng trên 1/2. Nên lưu ý rằng, ĐHQG Hà Nội là trường đại học có số lượng GS và PGS đông nhất Việt Nam hiện nay. Còn nếu so sánh trên phạm vi cả nước, thì số lượng GS của riêng ĐHQG Seoulcũng đã gấp đôi số lượng GS của cả nước Việt Nam cộng lại (theo số liệu mới nhất, số GS còn đuơng nhiệm cả của nước ta chỉ có 572 người). Vậy xin thử hỏi số lượng các GS và PGS ở Việt Nam có nhiều quá hay không?

Về vấn đề thứ hai liên quan đến cái gọi là “chất lượng” và “tiêu chuẩn” của GS và PGS. Không ai phủ nhận là trình độ nhiều GS, PGS của Việt Nam chưa bằng với GS, PGS của nhiều trường đại học trên thế giới, nhưng khác với trường nào, nước nào và ở mức độ như thế nào thì câu trả lời không đơn giản, nếu như không muốn nói lấy được.

Thực ra, trên thế giới, không có một chất lượng chung, tiêu chuẩn chung cho GS và PGS của các trường đại học giữa các nước, thậm chí ngay trong cùng một nước. Có hàng vạn các trường đại học trên thế giới khác nhau về uy tín khoa học, quy mô và chất lượng đào tạo, số lượng và chất luợng của đội ngũ giảng viên. Việc phong các chức danh GS và PGS được thực hiện theo yêu cầu về mặt chuyên môn của từng trường, và vì vậy, tiêu chuẩn và uy tín của các chức danh này cũng khác biệt giữa các trường với nhau, quyền lợi mà các GS và PGS được hưởng cũng rất khác nhau.

Để giành được một vị trí GS hoặc PGS ở các trường Top 10, Top 20 hoặc Top 50 của thế giới (với mức lương từ 50.000 USD/năm trở lên), chắc chắn phải vượt qua những tiêu chuẩn khắc nghiệt hơn nhiều so với vị trí GS, PGS ở các trường thứ 5.000 hay 10.000 (với mức lương chỉ chục nghìn đô hay vài nghìn đô/năm), nhưng cũng vì thế mà uy tín của các GS và PGS đó và các yêu cầu đối với họ cũng cao hơn nhiều.

Vì vậy, tác giả Nguyễn Văn Tuấn trong bài “ Đôi điều về các chức danh khoa bảng ở Việt Nam”  (Người Viễn xứ 12/12/2005) sau khi đã phân tích rất kỹ về các tiêu chuẩn quốc tế của GS và PGS cũng phải thừa nhận rằng trong thực tế “tiêu chuẩn và phẩm chất học hàm thường mang tính địa phương; tức là cũng có sự khác nhau giữa các thời điểm, giữa các nước, và thậm chí giữa các trường đại học trong cùng một nước”.

Nói như vậy không phải để coi nhẹ chất lượng và tiêu chuẩn của các GS và PGS Việt Nam, mà để thấy rằng trên thực tế tiêu chuẩn và chất lượng của các GS và PGS cũng phản ánh trình độ phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật của đất nước, phản ánh những điều kiện làm việc mà họ được hưởng.

Việc một vài người nào đó cố chạy cho đủ các tiêu chuẩn để được khoác danh GS và PGS thì lỗi đó trước hết thuộc về cơ chế chính sách, cơ quan quản lý và trách nhiệm của các Hội đồng chức danh, không nên vin vào đó để đưa ra những đánh giá không đúng về đội ngũ các GS và PGS nói chung.

Tôi cho rằng hiện nay so với yêu cầu, đội ngũ GS, PGS của Việt Nam không chỉ thiếu về lượng mà yếu cả về chất. Có tình trạng đó ngoài nguyên nhân khách quan (trình độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật) tất nhiên có nguyên nhân chủ quan, nhưng người chịu trách nhiệm chính không phải là bản thân đội ngũ GS và PGS, những người đang ngày đêm vượt lên những điều kiện làm việc rất khó khăn của mình để giảng dạy và nghiên cứu, mà là Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các nhà quản lý trực tiếp ở các cơ sở đào tạo trong cả nước.

Nếu tiếp tục các cơ chế chính sách với đội ngũ GS, PGS như hiện nay (coi trọng các chức vụ quản lý hơn chức vụ chuyên môn, đòi hỏi nghĩa vụ và sự cố gắng về mặt tinh thần hơn là quan tâm đến quyền lợi vật chất và các điều kiện làm việc, đòi hỏi sự tuân thủ hơn là sáng tạo…) thì sự tụt hậu cả về luợng và chất của đội ngũ GS, PGS của Việt Nam so với thế giới không chỉ như hiện nay. Nhìn vào đội ngũ giảng viên tương lai ở Đại học Quốc gia Hà Nội, một trong hai trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học lớn nhất nước, có thể thấy rõ điều đó.

Nguồn: vnn.vn 11/4/2006

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.