Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 03/05/2010 17:28 (GMT+7)

Cách phong giáo sư lâu nay sinh ra bệnh háo danh

Mà thực trạng đó, đến lượt mình, bị quy định bởi những nhược điểm và hạn chế của một nền văn hoá gốc nông nghiệp điển hình.

Những “ông quan” giáo sư

Hạn chế lớn thứ nhất của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là chất âm tính, trọng tĩnh, chỉ cần ổn định chứ không cần phát triển. Vì vậy VN không có truyền thống khoa học. VN truyền thống chỉ quan tâm đào tạo người làm quan, làm công chức.

Nền đại học VN theo phong cách phương Tây có từ thời Pháp và phát triển sau năm 1945, nhưng mãi đến năm 1976 mới có quyết định hình thành hệ thống chức vụ khoa học [Quyết định 162/CP-1976], và đến năm 1977 mới có quyết định về việc công nhận chức vụ GS và PGS [Quyết định 271-CP 1977].

Hạn chế lớn thứ hai của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là tư duy tiểu nông thiếu tầm nhìn xa nên làm việc thiếu kế hoạch. Vì vậy mà công nhận chức vụ khoa học từ năm 1977 nhưng mãi 12 năm sau mới thành lập Hội đồng xét duyệt học vị và chức danh khoa học Nhà nước bằng một Nghị định với 7 điều rất sơ sài [Nghị định 153 - HĐBT 1989]. Trong suốt hơn 10 năm Hội đồng làm việc thiếu kế hoạch, năm xét phong năm không. Phải đợi tiếp 12 năm nữa mới có một Nghị định quy định tiêu chuẩn, thủ tục bổ nhiệm và miễn nhiệm các chức danh GS và PGS [Nghị định 20-CP 2001].

Hạn chế lớn thứ ba của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là do tư duy tổng hợp chung chung nên làm việc gì cũng đại khái, thiếu quy trình bài bản cụ thể. Vì vậy mà hình thành hệ thống chức vụ khoa học từ năm 1976 nhưng phải đợi 25 năm sau mới có quy định về tiêu chuẩn chức danh GS-PGS [Nghị định 20-CP 2001]. Và phải chờ tiếp 7 năm nữa đến Quyết đinh 174-2008 mới có một điều quy định về nhiệm vụ của GS và PGS, còn quyền của GS-PGS (điều 6) thì hết sức sơ sài, chế độ chính sách thì hoàn toàn không có (HĐCDGS NN đưa ra thảo luận và đế xuất từ năm 2004 nhưng không được thông qua).

Hạn chế lớn thứ tư của một nền văn hoá nông nghiệp điển hình là thói quen trọng danh hơn thực, trọng danh hơn lợi. Mặt tốt của nó là tạo ra một truyền thống lâu đời coi trọng giới khoa bảng và những người có bằng cấp cao (Muốn sang phải bắc cầu kiều..; Nhất tự vi sư...). Nhưng cũng chính nó là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại dai dẳng của quan niệm phổ biến coi GS là một thứ “hàm” kiểu như những phẩm hàm phong kiến thời xưa.

Học hàm là danh hiệu trong hệ thống giáo dục và đào tạo được một tổ chức có quyền hạn nào đó phong (tặng) cho một người làm công tác giảng dạy hoặc nghiên cứu. Sau này đổi sang gọi là “chức danh khoa học” nhưng cách hiểu vẫn không thay đổi là bao. Chức danh là chức phận về danh tính của một người được xã hội công nhận, vì vậy mà khái niệm “cử nhân” nếu so với thạc sĩ, tiến sĩ thì là học vị, còn nếu so với bác sĩ, dược sĩ, kiến trúc sư thì là chức danh.

Chính vì coi GS là phẩm hàm, danh hiệu nên Nghị định 20-CP năm 2001 tuy nói đến “bổ nhiệm chức danh” nhưng trên thực tế thì trong suốt 8 năm chỉ dừng lại ở việc “xét công nhận [= phong] chức danh” mà không kèm theo bất kỳ quy định cụ thể nào về nhiệm vụ cho người được phong.

Chính vì chỉ công nhận và phong danh và thiếu quy định về nhiệm vụ nên quan niệm và cách làm này đã sản sinh ra căn bệnh “háo danh”, tệ nạn khệnh khạng bằng cấp, và thực trạng có một bộ phận “danh hão”, tạo ra vô số những ông “quan giáo sư” như các giáo sư Hoàng Xuân Sính và Hoàng Tụy từng nói [Hoàng Xuân Sính 2008; Hoàng Tụy 2009]. Cũng chính do truyền thống “háo danh” và căn bệnh “cào bằng” của văn hoá nông nghiệp này mà một thời (những năm 1990) ở Việt Nam đã đẻ ra tên gọi “giáo sư II” để gọi các phó giáo sư”!

Có danh mà không có thực

Do chỉ quan tâm đến danh mà không lo chế độ chính sách nên quan niệm và cách làm này đã dẫn đến thực trạng của GS-PGS VN là thu nhập từ trường đại học nơi mình làm việc không đủ đảm bảo đời sống của bản thân và gia đình; việc trả lương nặng về chủ nghĩa bình quân, không phản ánh đúng và chưa tương xứng với năng lực và kết quả làm việc của mỗi GS-PGS (mức lương trung bình dành cho GS như những giảng viên hàng đầu của các nước là 5.318 USD/tháng, trong khi đó, mức lương trung bình của GS VN vào năm 2008 là 200 USD/tháng, thuộc diện thấp nhất thế giới-so với lương trung bình của GS ở Châu Á là 1.000 USD).

Thêm vào đó và cũng một phần do đó mà môi trường làm việc chưa tốt, điều kiện làm việc thiếu thốn, nề nếp kỷ cương bị buông lỏng, v.v... khiến cho ở một số nơi, hàng loạt cán bộ có bằng cấp, năng lực nghỉ việc ở các cơ quan nhà nước để ra làm ngoài. Sinh viên giỏi tốt nghiệp không muốn ở lại trường giảng dạy mà chỉ thích đi làm cho công ty nước ngoài!

Rõ ràng, muốn thay đổi bộ mặt của nền khoa học và giáo dục VN thì một trong những công việc quan trọng là phải sử dụng một cách hiệu quả đội ngũ GS-PGS. Mà muốn nâng cao được hiệu quả đội ngũ GS-PGS thì phải thay đổi về cơ bản quan niệm và cách thức sử dụng họ.

Việc “bổ nhiệm chức danh GS-PGS” theo Quyết định 174-2008 mà VN đang tiến hành chính là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, việc làm này chỉ có thể được thực hiện một cách thực sự hiệu quả nếu có quy định về nhiệm vụ hợp lý và rõ ràng, kèm theo chế độ chính sách về môi trường làm việc và đãi ngộ thoả đáng.

Tại các Hội thảo ở Hà Nội và TPHCM bàn về chế độ chính sách sử dụng hiệu quả đội ngũ GS-PGS, nhiều ý kiến đề xuất rằng các GS-PGS sau khi được phong chức danh phải tham gia đào tạo đại học và sau ĐH, bồi dưỡng cán bộ khoa học trẻ, xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo, tổ chức nghiên cứu khoa học...

GS trong 3 năm sau khi được công nhận phải viết sách chuyên khảo hoặc giáo trình, sách tham khảo về lĩnh vực chuyên môn của mình, trong 2 năm sau khi được công nhận phải chủ trì ít nhất một đề tài NCKH cấp bộ trở lên...

Như vậy, rõ ràng là trong hoàn cảnh những đặc điểm của văn hoá VN hiện nay, việc quy định mang tính định lượng chặt chẽ để dễ quản lý và thi hành là thật sự cần thiết.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.