Các nấm da
Chẩn đoán bằng lâm sàng, khám toàn diện, nhất là các vùng có thể bị thương tổn và xét nghiệm kính hiển vi dương tính.
Trên da không lông, nhẵn nhụi, thương tổn nấm da là ngứa, hình tròn, bờ rõ tiến triển ly tâm. Dáng vẻ tròn, nhiều vòng cung, không đặc thù các nấm da, do đó chẩn đoán phân biệt đôi khi có khó khăn.
Vấn đề chẩn đoán
Chẩn đoán phân biệt với các thương tổn hình tròn: eczêma đồng xu (đồng tiền), khoanh khởi đầu của bệnh vẩy phấn hồng Gibert, impêtigô khô, vẩy nến… Chẩn đoán xác định và chẩn đoán nguyên nhân được nhờ tìm ra được các thương tổn khác và hỏi người bệnh: thú nuôi ở nhà, người nhà cùng mắc phải, về quê nghỉ hè…
Các nấm da ưa da người
Trichophyton rubrumlà nấm da thường được phân lập nhất ở phòng xét nghiệm (80%) từ cẳng chân, nếp ở nách hay ở mặt. T. interdigitale(15% các thương tổn) tấn công ở chân, bò lên các nếp bẹn. Lây lan bằng tiếp xúc trực tiếp: giày dép, khăn, buồng tắm, hồ bơi, buồng thể thao. Epidermophyton floccosumtấn công nhất là tại các nếp giữa ngón, nếp bẹn, ít khi ở móng.
Các nấm da ưa thú
![]() |
| Thương tổn hình tròn vòng cung ở hai chân bị thâm nhiễm nhiều có vẩy, mà nguyên nhân là từ một viêm móng do nấm T. rubrum và lạm dụng corticoid. |
Thương tổn viêm, nhất là ở da mặt, do nấm T. mentagrophytesxuất phát từ chuột lang, chuột nhắt, chuột lớn, chó hay ngựa. Nấm T. verrucosum nguồn gốc gây viêm, xuất phát từ bò con. Nấm M. persicolor và T. equinum từ ngựa. Bằng cớ chứng minh do lây bệnh phẩm từ thú bị nghi ngờ.
Các nấm ưa đất
Thường gặp nhất là nấm M. gypseum. Xuất phát từ đất hay gián tiếp từ mõm chó.
Xét nghiệm nấm học
Xét nghiệm bệnh phẩm nấm xác định chẩn đoán và quyết định điều trị thích ứng. Chỉ thực hiện được sau khi ngưng chữa trị tại chỗ hay toàn thân từ một đến hai tháng. Trị thử không biện minh hiệu nghiệm vì lẽ các thuốc khử nấm có hiệu năng kháng viêm đánh lừa.
Xét nghiệm trực tiếp từ vẩy cạo từ bờ rìa thương tổn hình vòng cung chính cũng như có thể có thương tổn ở chân (nếu thương tổn ở cẳng chân) và da đầu (nếu thương tổn ở mặt). Nuôi cấy ở môi trường Sabouraud. Nấm mọc trong 24 tiếng đến 48 tiếng, các nấm da trong 3 tuần lễ.
Rất ít khi cần sinh thiết; giúp chẩn đoán phân biệt.
Điều trị
Đối với một thương tổn duy nhất, dùng một kem kháng nấm riêng lẻ có thể là đủ: Daktarin, Péveryl, Fongéryl, Fazol, Myk 1%, Amycor, Ketoderm, Fongamil, Fongarex, Fonx, Mycoster.
Đối với thương tổn viêm, rất rộng hoặc nhiều thương tổn, phải kết hợp với thuốc uống.
Griséfulvine: 1g/ngày cho người lớn, 20mg/kg/ngày cho trẻ nhỏ trong 15 ngày đến 1 tháng (M. canis, T. mentagrophytes).
Lamisil: 250mg: 1 viên/ngày người lớn trong 15 ngày (T. rubrum, T. interdigitale T. tonsurans).
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 298, 15/12/2005, tr 21 - 23









