Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 08/06/2007 00:01 (GMT+7)

Cá chình - Nguồn lợi thủy sản có triển vọng ở ĐBSCL

Lợi thế của cá chình là lớn nhanh, giá trị thương phẩm cao, ít bệnh, tỷ lệ hao hụt giống rất thấp... Hiện tại, phong trào nuôi cá chình nước mặn và lợ khá sôi động, nhất là các vùng nước lợ ở các huyện Thới Bình, Đầm Dơi, U Minh (Cà Mau), Giá Rai, Đông Hải, Vĩnh Lợi (Bạc Liêu)... Cá chình nước ngọt cũng phát triển rộng khắp trong vùng ĐBSCL với quy mô nuôi gia đình.

Trong thực tế, cá chình được nuôi tại vùng Bán đảo Cà Mau như tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng... sau 24 tháng, có khả năng đạt trọng lượng từ 2 -3 kg /con. Cá chình giống lúc thả nuôi bình quân 10-12 con/kg loại nhỏ, loại trung 8-10 con và loại lớn 6-8 con/kg. Như vậy, tăng trọng của các hình thức nuôi nước mặn và nước ngọt bình quân khoảng từ 1-2 kg/con/ năm, với thức ăn đầy đủ, tương đương 6 -8 kg cá tạp thô thì đạt trọng lượng 1 kg cá thịt. Thả nuôi cá chình giống 6-8 con /kg sẽ rút ngắn thời gian tăng trọng, một năm nuôi có thể đạt trên 2 kg/con. Theo nhiều hộ nông dân, cá chình có giá trị kinh tế cao, có triển vọng khai thác vùng sinh thái nước mặn, nước lợ và nước ngọt để đa dạng hóa vật nuôi thủy sản thay vì chỉ nuôi độc canh tôm sú (sinh thái mặn), cá da trơn (sinh thái ngọt)... Các đại lý mua cá chình nước mặn và nước ngọt theo trọng lượng càng to thì giá càng cao. Giá cá chình nước mặn trên 2 kg/con có thể mua từ 280.000 -300.000 đồng/kg, còn nhỏ hơn cũng khoảng 250.000 đồng /kg. Cá chình nước ngọt mua từ 150.000 -180.000 đồng/kg tùy theo cá loại nhất, nhì... Đầu ra chủ yếu hiện nay là các siêu thị và nhà hàng cao cấp trong cả nước.

Cá chình nước ngọt và nước mặn có chiều hướng nuôi phổ biến ở các vùng nuôi tôm, nhưng nông dân đang lo là nguồn cá giống giá còn quá cao, loại 10 con/kg lúc thả nuôi vào tháng 11 và 12-2006 lên đến 330.000 đồng/kg. Chủ yếu là đặt mua các đại lý miền Trung đem vào. Được biết cá chình nước mặn chưa sinh sản nhân tạo được như tôm hay các loài cá khác. Nhân dân các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận... tự kéo, đẩy te ở các cửa sông rồi dự trữ thu gom chuyển vào bán cho các tỉnh ĐBSCL. Cá chình sinh sản vào cuối tháng 10 âm lịch và kéo dài cho đến tháng 2 và 3 âm lịch năm sau. Cá chình sinh sản giao phối từ biển khi thành con vào bờ tìm mồi ăn và lớn lên trở ra biển giao phối sinh sản. Cá chình có đặc tính ăn thức ăn chìm, trong khi các loài cá da trơn (cá ba sa, cá tra) ăn thức ăn nổi, nên cho cá chình ăn chủ yếu là thức ăn thô tự nhiên từ nguồn cá tạp phong phú ở bán đảo Cà Mau. Cá rô phi rất hợp “khẩu vị” cá chình, khi cho ăn chỉ cần thái nhỏ tùy theo trọng lượng của cá chình.

Nuôi cá chình đang là tự phát, dân chưa được hướng dẫn kỹ thuật cụ thể để giúp họ khi cần thiết, phát triển nghề nuôi cá chình thành nghề sản xuất hàng hóa lớn nhằm đa canh vùng nuôi trồng thủy sản thay vì chỉ có độc canh nuôi tôm sú, rủi ro rất lớn so với nuôi cá chình. Hơn nữa, đầu ra của nghề nuôi cá chình chưa ổn định. Bà con chủ yếu bán cho lái các tỉnh miền Trung còn khu vực ĐBSCL chưa có đơn vị mua chế biến xuất khẩu cá chình nên người dân sợ lâm vào cảnh như nuôi cá sấu, ba ba... trước đây không có đầu ra. Đặc biệt nhất là nguồn vốn đầu tư nuôi cá chình hầu như cạn kiệt trong dân vì rủi ro từ phong trào nuôi tôm sú tràn lan thiếu khoa học và kỹ thuật nuôi. Hiện nay không ít trang trại nuôi tôm sú bị phá sản. Còn nông dân nuôi tôm thì tiền cầm cố quyền sử dụng đất của họ cho ngân hàng. Mặc dù thời gian nuôi cá chình dài hơn tôm sú và vốn đầu tư lớn không thua cá da trơn nhưng sự rủi ro trong nuôi cá chình tại vùng sinh thái mặn và ngọt ở ĐBSCL rất ít. Tiếc rằng, chính sách khuyến ngư cũng như đầu tư cho cá chình hay chuyển dịch từ tôm sú sang cá chình còn chưa được đề cập trong kế hoạch của các địa phương.

Nếu các yếu tố trên được khắc phục, nhất là giống, kỹ thuật vốn đầu tư và đầu ra ổn định, con cá chình nước mặn và nước ngọt trở thành triển vọng lớn để nông dân chuyển dịch, hoặc đa canh từ nuôi tôm sú xen với cá chình (vùng sinh thái mặn), cá da trơn với cá chình nước ngọt (vùng sinh thái ngọt)... Khai thác và bảo vệ nguồn lợi cá chình của nước ta hiện nay cũng cần đặt ra, để bảo tồn cân bằng nguồn giống và phát triển đàn cá chình thương phẩm. Từ đó khai thác lợi thế đưa cá chình thành mặt hàng chủ lực xuất khẩu như con tôm sú và cá da trơn ở các tỉnh ĐBSCL.


Nguồn: kinhtenongthon.com.vn   (26/01/07)

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.