Bộ Khoa học & công nghệ: "Không cuộc phẫu thuật nào không đau đớn"!
* Theo một số nhà khoa học, nếu “bỏ phiếu” cho nghị định 115 có lẽ kết quả sẽ là “50% ủng hộ, 50% không ủng hộ”. Như vậy, có thể sẽ rất “gay go” khi thực hiện?
- Tôi cho rằng những người không ủng hộ hiện nay là những người chưa hiểu thực chất vấn đề và đây có thể là lỗi của chúng tôi làm công tác tuyên truyền chưa thật tốt. Ngoài ra, ở một số người có lẽ cũng còn thói quen sống với tư duy bao cấp của Nhà nước trong rất nhiều năm qua, một số đơn vị nghiên cứu khoa học lại kém năng động, chậm đổi mới.
Chúng tôi cho rằng khi các nhà khoa học đã hiểu rõ vấn đề và được giải thích đến nơi đến chốn, đặc biệt khi đã có một vài viện nghiên cứu chuyển đổi thành công, đã ăn nên làm ra thì tôi tin rằng tỉ lệ “ủng hộ và không ủng hộ” không còn là 50 - 50 nữa, mà tỉ lệ ủng hộ sẽ chiếm đa số. Tất nhiên, không một vấn đề gì mà không có những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, đặc biệt đây còn là một chính sách lớn của Nhà nước, tác động trực tiếp đến hàng nghìn con người làm khoa học.
Nhưng nếu nghiên cứu kỹ nội dung các điều khoản của nghị định 115, ai cũng phải thừa nhận: chắc chắn khi chuyển đổi sang cơ chế mới, các nhà khoa học sẽ có điều kiện tốt hơn để làm khoa học và sự đầu tư của Nhà nước cho hoạt động khoa học sẽ có hiệu quả cao hơn, bởi nghị định 115 tạo cho các tổ chức KH&CN nhiều điều kiện ưu đãi hơn, nhiều quyền hạn hơn so với hiện nay, và sự quan tâm của Nhà nước cũng sẽ nhiều hơn, dĩ nhiên dưới một phương thức khác.
* Bộ KH&CN luôn “tiếp thị” cơ chế 115 là cơ hội rất tốt để các nhà khoa học hoạt động, cọ xát với thị trường... Nhưng vì sao có nhiều nhà khoa học tỏ ra e ngại, băn khoăn?
![]() |
| Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm (Sở KH&CN TP.HCM) có doanh thu cao nhờ dịch vụ phân tích mẫu, với nhiều loại trang thiết bị hỗ trợ kỹ thuật cao. |
Thứ hai là băn khoăn về con người làm việc tại các đơn vị. Hiện tại, ở đa số các đơn vị nghiên cứu, nhà khoa học mang tâm lý đang là “người của Nhà nước”, khi chuyển đổi hoạt động thì phải chuyển sang hình thức ký hợp đồng, có vẻ như không còn là công chức nhà nước thì sẽ bị thiệt thòi về quyền lợi. Thậm chí nếu chuyển sang doanh nghiệp thì phải hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu hiểu rõ là khi chuyển đổi, mọi quyền lợi của nhà khoa học vẫn được bảo đảm và họ sẽ được tự chủ nhiều hơn trong bối cảnh đổi mới các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, mọi người sẽ ủng hộ việc chuyển đổi theo cơ chế mới.
Theo tôi, cái khó là giải quyết lao động dôi dư khi các đơn vị có sự sắp xếp lại, trong khi Nhà nước chưa có những chính sách cụ thể để hỗ trợ giải quyết các tình huống này. Cũng có một số ý kiến cho rằng “đã là người của Nhà nước”, cho dù họ làm việc không hiệu quả, nhưng rất khó “giải quyết” các trường hợp này, vì theo qui định hiện hành đối với viên chức của các đơn vị sự nghiệp thì phải được sự đồng thuận của đảng ủy, công đoàn, rồi có rất nhiều các qui định ràng buộc khác... Hiện Bộ Nội vụ và Bộ KH&CN đang chuẩn bị trình Chính phủ ban hành một văn bản để hỗ trợ chế độ cho những người không tiếp tục làm việc trong tổ chức KH&CN, tương tự chính sách tinh giản biên chế theo nghị quyết 16.
- Chậm nhất là đến tháng 12-2009 các viện, trung tâm nghiên cứu khoa học nhà nước phải chuyển đổi hoạt động theo một trong hai hình thức: tự trang trải kinh phí hoặc doanh nghiệp khoa học - công nghệ. Nếu không chuyển đổi hoạt động theo một trong hai hình thức trên sẽ được quyết định bằng việc sáp nhập hoặc giải thể. Riêng các viện, trung tâm, bộ phận... thuộc lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước thì Nhà nước vẫn bao cấp, đảm bảo kinh phí hoạt động hằng năm. - Các viện, trung tâm nghiên cứu... có đề án chuyển đổi được phê duyệt đúng hạn (hạn chót là 30-9-2006) thì được ngân sách “nuôi” đến hết năm 2009 để tạo điều kiện chuyển đổi hoạt động. Ngược lại, đối với các đơn vị thuộc diện buộc phải chuyển đổi mà không có đề án được duyệt hoặc không làm đề án thì ngân sách chỉ “nuôi” đến năm 2007 và sau đó phải sáp nhập hoặc giải thể. - Được quyền lựa chọn đối tác, tự quyết định hình thức hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đầu tư trực tiếp, dịch vụ KH&CN với các tổ chức, cá nhân nước ngoài. - Được quyền trực tiếp mời chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài đến làm việc, trao đổi khoa học, tham gia quản lý và kể cả chủ trì các đề tài, dự án khoa học... với mức lương tùy theo khả năng tài chính của đơn vị. - Được đăng ký kinh doanh và hoạt động như một doanh nghiệp; được hưởng những chính sách ưu đãi cao nhất dành cho doanh nghiệp; được chủ động đối với các quyết định liên quan đến nhân sự và thu nhập... |
* Nhưng một số nhà khoa học thổ lộ: trong tay họ bây giờ, ngoài tòa nhà làm việc hay mảnh đất... thì gần như không có tài sản trí tuệ, không có nhiều kết quả nghiên cứu để có thể bán và cạnh tranh được; trong khi trang thiết bị phòng thí nghiệm thì lạc hậu, đầu tư nhỏ giọt kéo dài nhiều năm; nhiều “công chức khoa học” làm việc không hiệu quả, cứ tới tháng lãnh lương, không có những kết quả nghiên cứu nổi bật được đưa vào sản xuất và đời sống...
- Trước khi xây dựng nghị định 115, các bộ, ngành cũng đã khảo sát tình hình rồi, đã nắm bắt được thực tế như vậy. Nhưng ở đây tôi nghĩ chúng ta cần thống nhất với nhau quan điểm: Nhà nước không thể nuôi mãi những đơn vị không làm việc tốt hoặc làm việc không mang lại hiệu quả. Cũng như đối với doanh nghiệp nhà nước, ngân sách không thể bao cấp mãi cho một đơn vị thua lỗ triền miên, Nhà nước cứ phải bù lỗ.
Tất nhiên, tôi muốn nhấn mạnh một điều mà có thể nhiều người vẫn hiểu chưa đúng: khi chuyển đổi sang cơ chế tự trang trải kinh phí không có nghĩa là Nhà nước “bỏ rơi” các tổ chức KH&CN mà buộc họ phải tự bươn chải, tự kiếm nguồn kinh phí nuôi nhau, mà bản chất của việc chuyển đổi này là thay đổi phương thức cấp kinh phí từ phương thức cấp theo biên chế trước đây sang cơ chế cấp theo nhiệm vụ được giao. Nói cách khác, Nhà nước sẽ tiếp tục hỗ trợ tổ chức KH&CN theo một phương thức mới, thậm chí còn nhiều hơn mức kinh phí hoạt động thường xuyên trước đây. Các nhà khoa học nên hiểu và chia sẻ với chúng tôi điều này.
Nếu như trước đây một viện nào đó không làm được việc gì có kết quả thì Nhà nước vẫn cấp kinh phí thường xuyên để nuôi bộ máy, nhưng bây giờ họ phải thể hiện được năng lực thông qua các nhiệm vụ, đề tài, dự án nghiên cứu... thì mới hi vọng có “lương thực” để duy trì và phát triển. Chúng ta phải chấp nhận cuộc cách mạng nào cũng có tổn thất, cuộc phẫu thuật nào cũng có đau đớn.
Trong cuộc chuyển đổi này cũng vậy, phải chấp nhận một số đơn vị quá yếu kém phải giải thể, một số viên chức cũng sẽ phải tìm nơi làm việc mới... Đây là xu hướng không thể tránh khỏi nhưng cái chúng ta muốn hướng đến là hiệu quả đầu tư của Nhà nước trong lĩnh vực KH&CN được nâng cao, KH&CN phải thật sự là động lực phát triển kinh tế xã hội, các nhà khoa học phải được thụ hưởng xứng đáng kết quả sáng tạo của mình.
* Và Bộ KH&CN đã có những con số dự báo nào cho cuộc “lột xác” này?
- Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi, trên cả nước có khoảng 560 viện, trung tâm nghiên cứu khoa học... thuộc các bộ, ngành và địa phương phải chuyển đổi phương thức hoạt động theo nghị định 115. Dự đoán riêng của tôi thì khoảng 10% trong số này thuộc dạng nghiên cứu cơ bản và chiến lược chính sách, Nhà nước sẽ tiếp tục “bao cấp” bằng kinh phí hoạt động thường xuyên theo phương thức khoán; khoảng 70% sẽ chuyển sang hình thức tự trang trải kinh phí; 10% có xu hướng chuyển sang loại hình doanh nghiệp KH&CN; và khoảng 10% sẽ phải sáp nhập hoặc giải thể.
Cơ chế mới sẽ giúp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thật sự là những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường và biến tài sản trí tuệ trở thành sản phẩm của xã hội. Đồng thời hi vọng sẽ có sự bùng nổ của những doanh nghiệp KH&CN; các sản phẩm hàng hóa của VN có hàm lượng chất xám cao hơn, có thể cạnh tranh được trong quá trình hội nhập quốc tế.
Ngoài ra, chúng ta hi vọng sẽ xã hội hóa được sự đầu tư cho KH&CN. Chính phủ đặt mục tiêu là tới năm 2010 đầu tư cho KH&CN chiếm 1,5% GDP (tương đương 6-7% chi ngân sách), trong đó tỉ trọng đầu tư của xã hội sẽ tăng dần và chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều đầu tư từ ngân sách nhà nước. Hiện nay đầu tư cho KH&CN mới đạt 2% tổng chi ngân sách quốc gia (tương đương 0,43% GDP) và chủ yếu là từ ngân sách nhà nước. Chúng tôi rất hi vọng nguồn đầu tư từ xã hội cho KH&CN tăng gấp đôi so với nguồn đầu tư của Nhà nước hiện nay trong vài năm tới.
Dù còn nghèo nhưng nước ta đã đầu tư 2% trong tổng chi ngân sách quốc gia dành cho KH&CN. Tuy nhiên, phải thẳng thắn nhìn nhận hiệu quả mang lại là chưa cao và chưa đáp ứng được với yêu cầu của xã hội. Nhiều nhà khoa học cũng bức xúc, những sản phẩm trí tuệ của họ phải xếp vào ngăn kéo hoặc nếu đưa vào sản xuất thì bản quyền, quyền lợi được hưởng từ sản phẩm trí tuệ ấy là rất ít.
Còn doanh nghiệp hiện nay cũng chưa quan tâm đến việc đầu tư cho KH&CN dù họ cũng thấy không thể phát triển, không thể cạnh tranh nếu không đổi mới công nghệ.
Bộ KH&CN rất kỳ vọng sự thay đổi hoàn toàn bức tranh này ở chỗ đề tài nghiên cứu xong có địa chỉ ứng dụng, còn nhà khoa học được trực tiếp sản xuất kinh doanh để ứng dụng kết quả nghiên cứu của mình. Cơ chế mới có thể khắc phục căn bản hiện tượng kết quả nghiên cứu đút ngăn kéo và hiện tượng nhà khoa học nghiên cứu những gì mình có thể làm được chứ không phải nghiên cứu cái xã hội cần.
Nguồn: tuoitre.com.vn 5/8/2006









