Bệnh viêm màng não do não mô cầu
Bộ não của con người nằm trong hộp sọ và được bảo vệ tốt nhờ được bao bọc trong màng não, tránh không bị tổn thương do va chạm với xương sọ. Màng não bao gồm 3 lớp, theo thứ tự từ trong ra ngoài là: màng nuôi, màng nhện và màng cứng. Khoảng trống giữa màng nuôi và màng nhện chứa đầy một dịch lỏng, gọi là dịch não tuỷ (DNT). Ngoài tác dụng bảo vệ, DNT còn chứa các chất dinh dưỡng cung cấp cho tế bào thần kinh.
![]() |
| Tử ban do não mô cầu ở chân bệnh nhân. |
Chẩn đoán VMN dựa vào những dấu hiệu của hội chứng nhiễm trùng: sốt đôi khi kèm ớn lạnh, lạnh run, lừ đừ, uể oải, chán ăn, môi khô, lưỡi đơ, đau nhức toàn thân. Ngoài ra, người bệnh còn có hội chứng màng não: cổ gượng cứng (không thể cúi đầu xuống để cằm đụng vào ngực; “tam chứng” màng não bao gồm ba dấu hiệu sau: Nhức đầu (nhất là ở vùng đỉnh đầu và dọc sau gáy), nôn ói (ói vọt bất chợt, không kiềm chế được, không liên quan đến việc ăn uống) và táo bón. Ở trẻ em sẽ thấy rõ dấu hiệu vạch da màng não: vết ửng đỏ theo vết vạch ở da bằng một vật không sắc cạnh (ví dụ như dùng móng tay vạch nhẹ da vùng bụng). Ngoài ra, bệnh nhân còn có thể có hội chứng não: rối loạn tri giác (lừ đừ, li bì, hôn mê… hoặc bứt rứt, vật vã, nói nhảm, co giật). Người bệnh có thể bị liệt các dây thần kinh sọ não với các biểu hiện: liệt nửa người, lé mắt, sụp mi mắt.
![]() |
| Đốm xuất huyết do não mô cầu ở cánh tay. |
Bệnh nhân VMN do não mô cầu được điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu trung bình 10 ngày. Nếu được chẩn đoán và điều trị sớm (trong vòng 3 ngày kể từ khi khởi bệnh), bệnh nhân sẽ hồi phục hoàn toàn. Trong trường hợp điều trị trễ, bệnh nhân có thể bị các di chứng: liệt nửa người, giảm sút trí tuệ… và thậm chí bị hôn mê sâu rồi tử vong.
![]() |
| Đặc điểm của tử ban: không biến mất khi nhấn vào, phân biệt với hồng ban: biến mất khi nhấn vào. |
Hiện nay, để phòng ngừa bệnh nhiễm não mô cầu, người ta đã có thuốc chích ngừa. Bên cạnh đó, việc giữ gìn vệ sinh môi trường, thông thoáng nơi ở luôn luôn là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu không chỉ dành riêng đối với bệnh nhiễm não mô cầu. Nhờ vào việc áp dụng tích cực các biện pháp phòng ngừa đặc hiệu (uống kháng sinh phòng ngừa, chích ngừa) và không đặc hiệu (sát trùng, tẩy uế nơi xảy ra dịch, giảm bớt sự tụ tập đông người tại khu xảy ra dịch…), ngành y tế TP HCM phối hợp với chính quyền địa phương đã khống chế được dịch bệnh tại Thủ Đức.
Trở lại trường hợp đã nêu ở trên, nhờ chẩn đoán sớm và điều trị kháng sinh đặc hiệu kịp thời, em N.N.T. hồi phục sức khoẻ hoàn toàn sau 11 ngày nằm viện để trở về tiếp tục việc chuẩn bị thi tú tài của mình.
Nguồn: Thuốc & Sức khoẻ, số 307, 1/5/2006










