Bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng, phát hiện và điều trị
Làm sao phát hiện vi khuẩn HP.
Có rất nhiều xét nghiệm và giá trị khác nhau. Nhưng trước khi làm xét nghiệm phải nhớ một nguyên tắc là ngừng kháng sinh và thuốc chống tiết axit ít nhất một tuần vì đa số các xét nghiệm cần điều kiện này thì độ nhạy mới cao. Có hai nhóm xét nghiệm:
- Nhóm xét nghiệm không xâm lấn,đơn giản, tiện lợi, dễ làm, giá trị không cao.
*Xét nghiệm máu, huyết thanh, tìm kháng thể kháng vi khuẩn (IgG, IgA), rất ít giá trị, cần nhiều xét nghiệm liên tiếp trước và sau đợt điều trị mới đánh giá được vi kháng thể còn tồn tại rất lâu sau khi vi khuẩn đã bị tiêu diệt cho nên nếu có dương tính thì cũng chưa chắc là còn HP. Chúng tôi không khuyến khích làm xét nghiệm này ngoại trừ trường hợp đặc biệt dạ dày bị xuất huyết hoặc đang đợt điều trị.
*Xét nghiệm hô hấp (UBT), dựa vào tính chất tiết urease của vi khuẩn, và đo độ phóng xạ qua hơi thở sau khi uống một liều nhỏ urea có chất phóng xạ C14, urease của HP sẽ phóng thích CO2qua hơi thở. Xét nghiệm có giá trị cao hơn vì có thể cho biết HP có hoặc không, còn hoặc đã hết. Có giá trị rất tốt để theo dõi và đánh giá sau đợt điều trị, xét nghiệm làm sau 4 tuần để tránh âm tính giả. Không làm cho trẻ em và phụ nữ có thai nếu dùng C14phóng xạ.
Trở ngại của hai xét nghiệm trên là không nói lên điều gì cả nếu không có dấu hiệu chắc chắn của tổn thương viêm loét dạ dày-tá tráng (qua nội soi). Do đó thông thường lại phải cần nội soi, vì chỉ có 1/6 số người bị nhiễm HP là bị bệnh.
- Nhóm xét nghiệm xâm lấn,khó chịu hơn vì cần nội soi dạ dày, nhưng giúp chẩn đoán bệnh ngay, giá trị rất cao:
*Xét nghiêm sinh thiết tìm urease tiết ra bởi HP (Biopsy urease test: Clotest, Pycloritek…), độ nhạy cao và độ chính xác gần 100%. Không làm nếu dạ dày đang hoặc mới xuất huyết; không làm nếu đang hoặc mới điều trị với kháng sinh và thuốc chống tiết vì sẽ cho kết quả âm tính giả,trong trường hợp này thì phải làm xét nghiệm máu nói ở trên.
*Xét nghiệm mô học có ưu điểm: phát hiện trực tiếp vi khuẩn và đánh giá chính xác các tổn thương, giá trị 100%, nhược điểm là khó làm, khó đọc và tốn kém.
*Xét nghiệm cấy vi khuẩn HP, nuôi cấy trực tiếp vi khuẩn từ bệnh phẩm, cũng giá trị 100%, nhưng rất khó thực hiện, tốn thời gian và rất tốn kém, chỉ làm khi vi khuẩn bị kháng thuốc, ưu điểm là làm đê tìm kháng sinh nhạy giúp điều trị trong trường hợp kháng thuốc.
Còn một số xét nghiệm ít ai làm: xét nghiệm nước bọt, phân, sinh học phân tử DNA/PCR.
Điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng do nhiễm HP.
Mấu chốt của vấn đề là axit dịch vị dạ dày và vi khuẩn HP, do đó phác đồ điều trị sẽ gồm có thuốc chống tiết axit với ức chế bơm proton và 2 trong 3 kháng sinh sau đây để diệt vi khuẩn: amoxicillin, clarithromycin, metronidazol trong 2 tuần, sau đó ức chế bơm proton 4 tuần nữa. Tỷ lệ thành công trên 90% và thuốc cũng dễ được bệnh nhân chấp nhận. Dùng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn HP không làm tăng nguy cơ bệnh trào ngược dạ dày-thực quản.
Theo dõi sau đợt điều trị, thường thì không cần làm vì lành 100%; chỉ nên làm ở những bệnh nhân đã có biến chứng của loét, hoặc mới mổ ung thư dạ dày; thường làm nhất và đơn giản nhất là xét nghiệm hô hấp 4 tuần sau. Tỷ lệ tái phát là sau 1 năm rất thấp (dưới 5% so với trên 75% nếu không dùng kháng sinh). Sau 2 năm, tỷ lệ tái phát cũng khoảng 7%.
Tóm lại, nếu điều trị đúng bài bản như trên thì tỷ lệ tái phát rất thấp, biến chứng rất ít và bệnh hầu như lành hẳn; không như trước kia khi chúng ta chưa biết con vi khuẩn này thì bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng là bệnh mãn tính kéo dài suốt đời với nhiều đợt tái phát liên tiếp: bệnh nhân rất khổ sở, mất sức vì không ăn được, và tốn kém lại còn bị nhiều biến chứng rất nguy hiểm.
Nhờ biết rõ nguyên nhân gây bệnh và nhờ điều trị kết hợp kháng tiết và kháng sinh rất hiệu quả nên bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng cần mổ đã giảm hẳn. tuy nhiên một số trường hợp sau đây cũng phải cần đến phẫu thuật: loét thủng, loét bít, loét chảy máu, nhiều lần hoặc khó cầm, loét chai xơ không đáp ứng điều trị, loét đe doạ ung thư hoá.
Để kết luận , chúng ta cần nhớ:
- Vai trò của vi khuẩn HP trong bệnh lý dạ dày-tá tràng đã được khẳng định. Điều trị đúng phác đồ sẽ làm lành hẳn.
- Nhiễm HP thì rất nhiều, mà bị bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng thì rất ít, do đó cần chẩn đoán cho được bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng trước đã, để có chiến lược điều trị hợp lý.
- Không dùng kháng sinh để điều trị HP (+) đơn độc vì không ích lợi gì mà lại bị tác dụng phụ nguy hiểm của kháng sinh và tạo nguồn vi khuẩn kháng thuốc khó điều trị về sau, ngoại trừ trước đó có loét hoặc thuộc nhóm người có nguy cơ ung thư dạ dày cao (Nhật, Hàn, Hoa) và phải giải thích cân nhắc lợi hại.
- Có thể kết hợp kháng sinh điều trị viêm loét dạ dày-tá tràng mà không cần xét nghiệm vi khuẩn HP nếu không có điều kiện làm xét nghiệm này, vì nguyên nhân hàng đầu là HP (dĩ nhiên phải loại trừ nguyên nhân dùng thuốc kháng viêm).
- Trẻ em cũng có thể bị bệnh này và cách xử lý cũng tương tự.
- Không có liên quan gì giữa vi khuẩn HP và hội chứng khó tiêu đầy bụng đơn thuần rất thường gặp (vấn đề còn đang bàn cãi).
- Không cần và cũng không nên làm xét nghiệm tìm vi khuẩn HP chỉ để cho biết mà không có dấu hiệu của bệnh dạ dày.
Tóm lại, có 3 con số cần nhớ chung quanh con vi khuẩn HP này: 7/10 chúng ta bị nhiễm HP, chỉ có 1/6 nhiễm HP là bị bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng, và trên 70% bệnh viêm loét dạ dày-tá tràng có nguyên nhân nhiễm HP.








