Bệnh nhiễm não mô cầu
Não mô cầuhay Màng não cầu khuẩnNeisseria meningitidislà vi khuẩn có thể gây bệnh nhiễm trùng ở nhiều nơi trên cơ thể người với nhiều bệnh cảnh khác nhau. Nguy hiểm nhất là nhiễm trùng máu thể tối cấp có thể gây tử vong nhanh chóng, ngay cả khi đã được điều trị tích cực, kế đến là viêm màng não mủ. Hai thể bệnh này có thể gây thành dịch bộc phát rất nguy hiểm.
Não mô cầu cư trú tại vùng họng mũi của người và lây truyền theo các giọt nước nhỏ bài tiết qua đường hô hấp. Người lành mang vi khuẩn não mô cầu là tác nhân làm lan truyền bệnh mạnh mẽ hơn cả người đang mắc bệnh. Nếu không có dịch bệnh thì khoảng 2-5% dân chúng thành thị có não mô cầu ở vùng họng mũi. Trong gia đình có người mắc bệnh, tỷ lệ này tăng đến 40% ở những người tiếp xúc gần gũi, và 100% nếu ở những nơi quá chặt chội hay khi có dịch lớn. Bệnh lây do tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp qua trung gian đồ dùng chung có dính chất tiết của người bệnh. Hiện nay được biết, người là tàng chủ duy nhất của não mô cầu. Thời gian ủ bệnh từ lúc nhiễm đến lúc khởi bệnh trung bình từ 1-10 ngày.
Tuổi dễ mắc bệnh nhất là trẻ em từ 6 tháng đến 10 tuổi, sau 20 tuổi ít mắc bệnh hơn. Bệnh xảy ra nhiều nhất khi thời tiết lạnh, mùa đông và đầu mùa xuân, hoặc cuối mùa khô đầu mùa mưa. Bệnh lây lan ở những nơi tập trung đông người hay khi tắm hồ bơi.
Có sự liên quan giữa bệnh nhiễm siêu vi đường hô hấp và bệnh nhiễm não mô cầu: cả hai bệnh đều xảy ra nhiều vào mùa lạnh, đã có nhiều vụ dịch bộc phát đồng thời hai bệnh cùng một lúc; những người đã được chủng ngừa siêu vi đường hô hấp Adenovirus typ 4 thì ít bị bệnh não mô cầu hơn những người không được chủng ngừa.
Não mô cầu có thể gây nhiễm trùng huyếtkèm theo viêm màng não mủ, tỷ lệ bệnh nhân mắc 2 thể bệnh phối hợp: 65 – 70%.
Bệnh khởi đột ngột. Nhiều bệnh nhân có triệu chứng giống cảm cúm trong đó: mệt mỏi, đau họng, ho, nhức đầu,…sau đó tình trạng diễn tiến nặng hơn: sốt cao kèm nôn ói, đaunhức các khớp và các bắp cơ,…
Hình ảnh đặc trưng của bệnh là tử ban trên da, có trong khoảng 75% các trường hợp bệnh, thường thấy ở nách, mạn sườn, mông, quanh khớp. Đôi khi tử ban phồng như dạng nốt phỏng hoặc lan rộng thành những mảng lớn. Hầu hết các trường hợp có kèm theo xuất huyết niêm mạc mắt. Tuy vậy, không có tử ban không có nghĩa là bệnh nhẹ.
Khi xuất huyết sớm, tử ban lan tràn nhanh chóng trong vòng khoảng 12 giờ đầu, kèm theo các dấu hiệu nặng như sốt cao đột ngột, tím tái, giá lạnh tứ chi; với tình trạng kích động hoặc hôn mê, tình trạng sốc, suy sụp nhanh…đó là thể bệnh tối cấp. Người bệnh may mắn sống sót có khi bị những mảng mục ở da hoặc mất ngón vì bị hoại tử.
Viêm màng não do não mô cầulà thể bệnh thường gặp, cùng với biểu hiện nhiễm trùng huyết và tử ban, nổi bật có các triệu chứng: sốt, ói, nhức đầu, mê sảng. Có thể chẩn đoán bệnh sớm nhờ vào một số đặc điểm sau:
- Bệnh khởi phát đột ngột ở trẻ em trước đó khoẻ mạnh.
- Đang trong thời gian có nhiều bệnh nhiễm não mô cầu xảy ra hoặc có tiếp xúc với người bệnh đã xác định.
- Tiền căn viêm tai, viêm xoang, tắm hồ bơi.
- Có thể kèm viêm khớp, herpes quanh miệng.
Não mô cầu gây biến chứngtại nhiều cơ quan khác nhau. Nhiễm trùng mép do herpes xảy ra khoảng 5-20%. Các cơn co giật và điếc 10-20% trong giai đoạn cấp diễn, động kinh sau viêm màng não thì hiếm gặp và tổn thương thần kinh vĩnh viễn ít hơn 5%. Một số người bệnh than nhức đầu, đau lưng, giảm trí nhớ và sẽ hết sau một hoặc hai năm sau.
- Viêm khớp: xảy ra từ 2-16%, có nhiều dạng, sau điều trị thường không để lại di chứng.
- Viêm màng tim: ngày càng ít gặp do dùng nhiều kháng sinh sớm nhưng vẫn không cứu được một số bệnh nhân tử vong vì viêm cơ tim.
- Viêm phổi: có thể là bệnh cảnh tiên phát, hoặc xảy ra phối hợp cùng lúc với bệnh cảnh nhiễm trùng huyết hay viêm màng não mủ.
Để điều trị,người bệnh phải được nhập viện sớm ngay khi có nghi ngờ để được theo dõi ngay từ đầu.
Nhiễm não mô cầu là bệnh truyền nhiễm, lây chủ yếu qua đường hô hấp. Do vậy, khi có một người bệnh được xác định thì những người tiếp xúc gần gũi như bạn hoặc cùng lớp, người thân trong gia đình cần được xét nghiệm vi khuẩn bằng cách quệt cổ họng. Cách ly người bị viêm họng mũi và điều trị tích cực cho đến khi xét nghiệm không còn thấy vi khuẩn.
Đối với những người có nguy cơ nhiễm bệnh cao, bác sỹ sẽ cho uống phòng ngừa rifampyxin trong 2 ngày, để loại trừ tận gốc tình trạng người lành mang mầm bệnh và giảm đến mức tối thiểu sự lan truyền vi khuẩn.
Vaccin chủng ngừa được điều chế từ kháng nguyên polysaccharides tinh khiết. Miễn dịch xuất hiện 2 tuần sau khi tiêm và kéo dài khoảng 3 năm.
Thuốc chủng ngừa có khi cần dùng phối hợp với thuốc uống để tăng hiệu lực phòng bệnh cho những người sống trong cùng gia đình hoặc những người tiếp xúc gần gũi với bệnh nhân.
Nguồn: Thuốc & sức khoẻ, số 303 (1.3.2006).







