Bảy luận điểm về kẻ sĩ trong học thuyết Khổng Tử (tiếp)
Luận điểm năm: Nhân của thánh nhân và nhân của kẻ sĩ
Trong học thuyết Khổng Tử, nhânvừa là lý tưởng đạo đức nhưng lại vừa là lý tưởng xã hội. Bởi vì, cứu cánh mang tính chất thánh thiện của nhân là mưu cầu “ điều tốt lành cho khắp dân chúng, giúp rập mọi người có cuộc sống ấm no”(bác thế ư dân nhi năng tế chúng). Cho nên khi (Ung Dã, VI/28) Tử Cống hỏi: “ Giá như có một người đưa lại nhiều điều tốt lành cho khắp dân chúng, lại có thể giúp rập mọi người có cuộc sống ấm no, thì thế nào (hà như)? Có thể gọi là nhân được không? (Khả vị nhân hồ) thì Khổng Tử trả lời ngay rằng đó không còn thuộc chuyện nhân mà thuộc chuyện thánh rồi. Và phải gọi người như thế là Thánh mới đúng. Rồi Khổng Tử còn nói rõ thêm rằng, dù là Nghiêu Thuấn đi nữa, cũng còn lo chưa làm nổi việc của thánh nhân đó.”
Thánh còn chưa làm được, huống hồ kẻ sĩ không phải là thánh. Rất có thể vì thế mà khi tiếp tục đối thoại với Tử Cống - cao đệ ở khoa ngôn ngữ (Tiên tiến, XI/12) - Khổng Tử chỉ giải trình cách làm điều nhân(nhân tri phương) trong cảnh giới của kẻ sĩnhư sau: Phàm kẻ sĩ có nhân, phải dẹp lòng vị kỷ, loại bỏ giới hạn tách biệt người với mình: hễ mình muốn tự lập được thì cũng thành lập cho người (kỷ dục lập nhi lập nhân), hễ mình muốn được thành đạt thì lo cho người cũng được thành đạt (kỷ dục đạt nhi đạt nhân). Hãy lấy điều gần ngay trong lòng mình mà suy đạc đến lòng người, coi lòng người cũng như lòng mình, xem người cũng như mình, lấy cách đối đãi với người (năng cận thủ thí). Thế mới gọi là cách làm nhân của kẻ sĩ vậy (khả vị nhân chi phương giã dĩ).
Như vậy, quan điểm của Khổng Tử rõ ràng là: làm điều nhân để trở thành thánh nhân là một điều thực tế chỉ là ảo tưởng, nhưng để trở thành người có đức nhân thì kẻ sĩ ai cũng có thể làm được, chỉ cần đạt ba điều kiện sau:
Một là,mình đã muốn lập được sự nghiệp thì cũng muốn người khác lập nên sự nghiệp. Con người ta thường mắc phải bệnh hại người để lợi mình: muốn có địa vị, chỗ đứng trong xã hội lại thường bài xích, lật đổ người khác và thông thường là “ố nhân thắng kỷ” (ghét người khác hơn mình).
Hai là,mình muốn thành đạt trong cuộc đời, cũng muốn người khác thành đạt. Con người thường mắc bệnh đố kỵ, người có thì ghen ghét, người không có thì chê bai, chỉ biết vui mừng khi thấy mình hưng thịnh mà không hề vui mừng khi thấy người hưng thịnh. Do đó xảy ra tình trạng đố kỵ lẫn nhau không bao giờ dứt giữa người với người trong cùng một cộng đồng, dù chỉ có một nhúm người đi nữa.
Ba là,làm bất cứ việc gì cũng biết lấy mình để đối chiếu, lấy mình làm thử để hiểu thấu ý muốn của người. Một người đối với mọi người, nhân hay bất nhân, có thể nhìn rất rõ từ bản thân mình.
Cách làm điều nhân của kẻ sĩ được Khổng Tử đề xuất trong cuộc đối thoại giữa ông và Tử Cống đã được Luận ngữghi chép lại (Ung dã/VI/28), có thể lạm dịch như sau:
Tử Cống hỏi: “ Giá như có người đưa lại nhiều điều tốt lành cho khắp dân chúng, lại có thể giúp rập mọi người có cuộc sống ấm no, thì thế nào? Có thể gọi là người nhân được không”?
Khổng Tử đáp rằng: “ Sao lại có chuyện nhân ở đây (hà sự ư nhân)? (Đó là chuyện thánh chứ). Tất phải gọi người ấy là thánh mới đúng. Đến như Nghiêu Thuấn cũng còn lo không làm nổi việc đó của thánh nhân nữa là!
Còn như người nhân, mình muốn gây dựng điều gì cho mình thì cũng gây dựng cho người điều đó, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt: biết lấy bản thân mình làm mục tiêu so sánh để hiểu thấu lòng người, khá gọi đó là phương pháp để thực hiện điều nhân vậy”.
(Luận ngữ chính văn, Ung dã/VI/28, bản ghép tay xưa truyền lại)
Luận điểm sáu: Nội dung nhân trên đường chính trị của kẻ sĩ
Một vấn đề xưa cũng như nay thường băn khoăn là kẻ sĩ thường phải làm công việc mà Luận ngữ(Tử Lộ/XII/20) gọi là “tòng chính” (tức làm chính trị, làm quan). Và một khi đã nhô lên khỏi mặt bằng của một cộng đồng cư dân nào đó (một tổ dân phố, một xóm, một làng cho đến cả một quốc gia) thì họ thường thay lòng đổi dạ đối với cộng đồng cũ, mới. Và việc thực hiện điều nhân “gánh nặng đường xa” được xác định ở luận điểm IV nói trên ngày càng trở nên xa lạ với đám kẻ sĩ này. Theo Phan Bội Châu (1867 - 1940) trong hàng ngàn kẻ sĩ theo học Khổng Tử, người đầu tiên đề xuất việc đó chính là Tử Trương. Trong cuốn Khổng học đăng(Ngọn đèn Khổng học), Phan Bội Châu đã giải trình trường hợp này như sau: Tử Trương có ý phân vân “ có thể đem chữ nhân làm ở trên đường chính trị mà không tổn hại gì tới đức nhân không?- Là trong ý Tử Trương nghi ngờ chính trị không làm đượcnhân”. Khi trả lời Tử Trương, Khổng tử cho rằng “ nếu điều hành việc thiên hạ mà biết làm được năm đức cho thiên hạ thì đó chính là nhân”.Tử Trương xin Khổng Tử cho biết năm đức ấy Khổng Tử đáp:
1. Cung(nghĩa là tự mình có yêu cầu đối với mình, từ ý thức tư tưởng trong nội tâm đến hành vi biểu hiện ra ngoài đều thực sự nghiêm túc, biết tự mình ràng buộc mình. Làm một người điều hành xã hội, biết ràng buộc mình, quản lý mình là mấu chốt thành công.
2. Khoan(tức là khoan dung, độ lượng, có tấm lòng rộng mở đối với mọi người)
3. Tín(có lòng tự tin và có lòng tin ở cấp dưới, tin quần chúng, luôn luôn giữ tín, nói thì phải làm, không nói một đằng làm một nẻo, không lừa dối người dân để trục lợi).
4. Mẫn(mẫn cán siêng năng, gặp việc có phản ứng nhanh lẹ, làm việc có hiệu quả thực sự).
5. Huệ(nghĩa là biết đưa lại lợi ích cho nhân dân, có tình cảm thực sự với nhân dân, không tráo trở với dân, cùng dân mưu sự nghiệp chứ không tìm cách dùng sức dân, tiền thuế của dân để mưu đồ giàu sang trên sự nghèo hèn của dân).
Sau khi đề xuất năm đức trên, Khổng Tử giải thích tác dụng của từng đức đối với người làm chính trị như sau: “Cung thì không khinh người và không bị người khinh, Khoan thì được lòng người, Tín thì được người ta tín nhiệm, Mẫn thì nên công, Huệ thì dễ điều khiển người”.
Loại thứ nhất là loại “xử (lý) việc thiên hạ mà biết làm được năm đức (cung, khoan, tín, mẫn, huệ) cho thiên hạ”. Còn loại thứ hai thì làm ngược lại năm đức ấy.
Luận điểm bảy: Lý thuyết “sát thân thành nhân” của kẻ sĩ
Xét tổng quát, đời sống trọn vẹn đầy đủ của một con người, thường có thể bao gồm 4 đời sống bộ phận hợp thành như sau: 1. Đời sống vật chất (bao gồm cả thân mình, gia đình, họ hàng…) 2. Đời sống tinh thần; 3. Đời sống luân lý; 4. Đời sống tâm linh.
Cùng nằm trong một con người và chịu sự chi phối của xã hội nhưng 4 đời sống bộ phận ấy lại có thể không ăn khớp với nhau, thậm chí so le, trái ngược nhau để rút cục tạo nên khó khăn đau khổ cho con người.
Hơn 25 thế kỷ trước, trường đào tạo kẻ sĩ do Khổng Tử sáng lập đã chính thức đặt ra vấn đề nan giải xưa nay đó trên bình diện lý thuyết.
Trung tâm của vấn đề phải giải quyết là sự xung đột giữa việc thực thi đức nhân (đời sống tinh thần, đời sống luân lý…) và sinh mạng kẻ sĩ (đời sống vật chất…) tới mức buộc kẻ sĩ phải lựa chọn lấy một trong hai đời sống bộ phận đó.Theo như thiên Vệ Linh công của Luận ngữthì lý thuyết giải quyết của Khổng Tử là như sau:
Kẻ sĩ nuôi chí lớn (chí sĩ) chỉ làm điều mình cho là phải, bậc chí sĩ có đức nhân (chí sĩ nhân nhân) thường coi việc nghĩa nặng hơn sự sống, “nghĩa nặng hơn người”. Đã là kẻ sĩ, chỉ có thể giết được chứ không làm nhục được (“Sĩ khả lục bất khả nhục”). Đời sống tinh thần, đời sống luân lý… tồn tại lâu dài hơn sinh mạng(thuộc bộ phận đời sống vật chất) của kẻ sĩ.Vì thế kẻ sĩ bao giờ cũng nuôi chí lớn nghị lực lớn để thực hiện đức nhân như một “gánh nặng đường xa” mà kẻ sỉ đã nhận trách nhiệm suốt đời (luận điểm IV). Kẻ sĩ chỉ yên tâm giã biệt thế giới này khi đã hoàn thành trách nhiệm suốt đời vì đức Nhân đó. Cho nên, có lúc bậc chí sĩ có đức nhân vui vẻ xả thân mình để hoàn thành lý tưởng nhân của mình (sát thân thành nhân).
“Bậc chí sĩ có đức nhân không cầu mong được sống để làm hại điền nhân, mà có khi còn xả thân để giữ trọn đạo nhân”.
(Luận ngữ chính văn, Vệ Linh công/XV/8, bản chép tay xưa truyền lại).
Chúng ta đã theo dõi đầy đủ bảy luận điểm cơ bản trong vấn đề kẻ sĩ của sách Luận ngữ.Nói cơ bản, vì ngoài bảy luận điểm đó, Luận ngữcòn ghi lại khá nhiều mệnh đề khác cũng nói về kẻ sĩ nữa, nhưng những mệnh đề này không có tính độc lập, thường có thể suy ra từ ít nhất một trong bảy luận điểm cơ bản trên. Do đó theo lý thuyết tiên đề, không thể tách ra để xếp hàng ngang với bảy luận điểm cơ bản đã được giải trình rõ ràng trên.
Vấn đề quan trọng ở đây là, bảy luận điểm cơ bản về kẻ sĩ trên đây đã liên kết với nhau để tạo thành cốt cách đặc trưng cho kẻ sĩ ở các phương diện đạo lý làm người, giá trị làm người, lương tâm, bản lĩnh và danh dự của con người v.v… trong đó điểm mạnh và điểm yếu thường xen kẽ lẫn nhau, có khi rất khó phân biệt.
Rồi thông qua vai trò xã hội của kẻ sĩ trong cộng đồng xã hội thuở xưa, vốn thuộc làn sóng văn minh nông nghiệp, cái cốt cách ấy đã lan rộng và hoà vào đời sống cộng đồng ấy tới mức mà, không ít người Việt xưa và nay - dù ít học vấn đi nữa - vẫn hiểu được và kính nể cái thường được gọi là “cương trực của kẻ sĩ” hoặc “khí khái của kẻ sĩ”.
Nhưng từ đầu thế kỷ XX cho đến nay, cốt cách kẻ sĩ đã trải qua những biến thiên sâu sắc, và cho tới cuối thế kỷ XX lại nay thì cơ hồ không còn giữ được nổi nữa. có đúng thế không? Nếu có thì vì sao lại có thực trạng đó? Liệu cốt cách của kẻ sĩ có còn giá trị nào đó trong thời đại mới, tình thế mới của đất nước hay không? Làm sao cốt cách đó lại có thể duy trì và duy trì như thế nào trong đời sống hiện đại?








