Bàn về việc bảo vệ nguồn tài nguyên nước mặt
Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km2 chiếm 60% và dòng chảy nội địa là 340 km3 chiếm 40%.
Tính chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền của nước ta chỉ chiếm khoảng 1,35% của thế giới. Tuy nhiên, một đặc điểm quan trọng của tài nguyên nước mặt là có những biến đổi mạnh mẽ theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều giữa các hệ thống sông và các vùng.
Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông của nước ta là phần lớn (khoảng 60%) được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%). Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì hệ thống sông Hồng có tổng lượng chảy lớn nhất (81,3 km3) chếm 23,9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15,6%), hệ thống sông Đồng Nai (32,8 km3, 9,6%).
Nhưng với sự gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội sẽ làm gia tăng mạnh nhu cầu dùng nước và đồng thời tác động mạnh mẽ đến tài nguyên nước mặt.
Trước hết sự gia tăng dân số sẽ kéo theo sự gia tăng về nhu cầu nước sạch cho ăn uống và lượng nước cần dùng cho sản xuất ở nước ta, mức bảo đảm nước trung bình cho một người trong 1 năm từ 12.800 m3/ người vào năm 1990 giảm còn 10.900 m3/ người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8.500 m3/người vào năm 2020. Tuy mức bảo đảm nước nói trên của nước ta hiện nay lớn hơn 2,7 so với châu Á (3.970 m3/người) và 1,4 lần so với thế giới (7650 m3/người), nhưng nguồn nước lại phân bố không đều giữa các vùng. Do đó, mức bảo đảm nước của một số hệ thống sông khá nhỏ: 5000 m3/người đối với hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã và chỉ đạt 2980 m3/người ở hệ thống sông Đồng Nai. Theo Hội ước quốc tế (IWRA), nước nào có mức bảo đảm nước cho 1 người trong 1 năm dưới 4000 m3/người thì nước đó thuộc loại thiếu nước và nhỏ hơn 2000 m3/người thì thuộc loại hiếm nước. Theo tiêu chí này, nếu xét chung cho cả nước thì nước ta không thuộc loại thiếu nước, nhưng không ít vùng và lưu vực sông hiện nay đã thuộc loại thiếu nước và hiếm nước như vùng ven biển Ninh Thuận – Bình Thuận, hạ lưu sông Đồng Nai. Đó là chưa xét đến khả năng một phần đáng kể lượng nước được hình thành ở nước ngoài sẽ bị sử dụng và tiêu hao đáng kể trong phần lãnh thổ đó.
Hơn nữa nguồn nước sông tự nhiên trong mùa cạn lại khá nhỏ chỉ chiếm khoảng 10 – 40% tổng lượng nước toàn năm, thậm chí bị cạn kiệt và ô nhiễm, nên mức bảo đảm nước trong mùa cạn nhỏ hơn nhiều so với mức bảo đảm nước trung bình toàn năm.
Sản xuất công nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ trong tất cả các vùng trong tương lai. Theo kết quả đánh giá năm 1999, tổng lượng nước cần dùng cho cả nước chiếm khoảng 8,8% tổng lượng dòng chảy năm năm, tương ứng với tần xuất 75%, tăng lên tới 12,5% vào năm 2000 và 16,5% vào năm 2010. Tổng lượng nước dùng để tưới cho cây trồng khá lớn từ 41 km3 (chiếm 89,8%), năm 1985 tăng lên 46,9 km3 (năm 1990) và 60 km3 (năm 2000) chiếm 85%. Lượng nước cần dùng trong mùa cạn rất lớn, nhất là lượng nước dùng cho nông nghiệp. Tổng lượng nước cần dùng trong mùa cạn năm 2000 đạt tới 70,7 km3 chiếm khoảng 42,4% tổng lượng nước có khả năng cung cấp trong mùa cạn (bao gồm nước sông, nước dưới đất và nước do các hồ chứa điều tiết), hay 51% tổng lượng dòng chảy mùa cạn tương ứng với tần xuất 75%. Vào năm 2010, tổng lượng nước cần dùng vào mùa cạn có thể tới 90 km3, chiếm khoảng 54% tổng lượng nước có thể cung cấp hay 65% tổng lượng dòng chảy trong mùa cạn tương ứng với tần xuất 75%. Đặc biệt, ở không ít vùng và lưu vực sông, lượng nước cần dùng có thể gấp vài lần tổng lượng có thể cung cấp, tức là chẳng những vượt quá xa ngưỡng lượng nước cần có để duy trì sinh thái mà còn không có nguồn nước tại chỗ để cung cấp cho sinh thái và sản xuất.
Cạn kiệt và ô nhiễm nguồn nước: sự gia tăng dân số và các hoạt động của con người sẽ ngày càng tác động mạnh mẽ đến môi trường tự nhiên nói chung và môi trường nước nói riêng. Những hoạt động tự phát, không có quy hoạch của con người như chặt phá rừng bừa bãi, canh tác nông lâm nghiệp không hợp lý và thải chất thải bừa bãi vào các thủy vực... đã và sẽ gây nên những hiệu quả rất nghiêm trọng, làm cho nguồn nước bị cạn kiệt, bị ô nhiễm, hạn hán có khả năng ngày càng khốc liệt. Nguy cơ thiếu nước sạch càng trầm trọng, nhất là vào mùa cạn ở các vùng mưa ít.
Cuối cùng sự cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước sẽ càng trầm trọng nếu không có các biện pháp quản lý tốt tài nguyên nước nói chung và nguồn tài nguyên nước mặt nói riêng. Do vậy, khủng hoảng nước hiện nay không chỉ do nước quá ít không đủ để thỏa mãn nhu cầu của con người mà còn do sự quản lý nguồn nước yếu kém gây nên.
Tóm lại, khan hiếm và thiếu nước là mối đe dọa đối với sự tồn tại của con người trong tương lai do vậy để sử dụng hiệu quả nguồn nước cũng như quản lý và bảo vệ tốt tài nguyên nước nói chung và nguồn tài nguyên nước mặt nói riêng cần có những giải pháp cụ thể sau đây:
Cần thực hiện nghiêm chỉnh Luật Tài nguyên nước và đẩy mạnh hoạt động của Hội đồng tài nguyên nước quốc gia và Ban quản lý lưu vực các sông;
Củng cố, bổ sung mạng lưới điều tra quan trắc tài nguyên nước bao gồm cả nước mặt và nước dưới đất (cả về số lượng và chất lượng); hình thành mạng lưới quan trắc điều tra tài nguyên nước thống nhất trong phạm vi cả nước.
Tiến hành kiểm kê đánh giá tài nguyên nước trong các lưu vực sông, các vùng và toàn lãnh thổ;
Trên cơ sở kiểm kê đánh giá tài nguyên nước và cân bằng kinh tế nước mà xây dựng chiến lược, chính sách bền vững tài nguyên nước quốc gia nói chung và cho các lưu vực sông nói riêng.
Cần phải tuyên truyền cho mọi đối tượng sử dụng nước phải sử dụng nước một cách tiết kiệm, hiệu quả, vì nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan quý giá.








