Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 19/11/2010 19:10 (GMT+7)

Bàn về định hướng nội dung chương trình cải cách nền hành chính nhà nước giai đoạn 2010 – 2020

1. Cơ sở định hướng

- Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khoá X về tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá.

- Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 dự kiến trình Đại hội XI của Đảng thông qua. Trong đó có các giải pháp đột phá ưu tiên để thực hiện chiến lược: hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính.

- Kết quả tổng kết, đánh giá Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 và những bài học thực tiễn chỉ đạo thực hiện ở các cấp.

- Phương thức tiếp cận vấn đề luôn phải trên cơ sở khoa học - thực tiễn và hệ thống, do tính chất phức tạp của yêu cầu tiếp tục cải cách toàn diện nền hành chính nhà nước trong điều kiện mới: quản lý nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập sâu, đầy đủ vào thế giới.

2. Những định hướng lớn về nội dung cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020

2.1. Mục tiêu: tiếp tục tập trung xây dựng hệ thống hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, đảm bảo quản lý thống nhất, thông suốt trên cơ sở phân công, phân cấp hợp lý, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong thời kỳ mới, chuyển thành công nền hành chính sang phục vụ.

2.2. Yêu cầu cải cách hành chính thời gian tới:

- Thực hiện nguyên tắc và nhất quán xây dựng nền hành chính mới phù hợp, một nền hành chính phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển theo hướng từng bước hiện đại hoá, chuyên nghiệp hoá.

- Tổ chức bộ máy hành chính gọn nhẹ theo nguyên tắc tổ chức Chính phủ có số lượng bộ nhỏ quản lý nhà nước vĩ mô đa ngành, đa lĩnh vực trong phạm vi cả nước.

- Nâng cao vai trò của Chính phủ, chính quyền các cấp trong tổ chức cung cấp dịch vụ hành chính công và sự nghiệp công có chất lượng và thuận lợi cho dân.

- Đổi mới đồng bộ hệ thống chính trị, trọng tâm là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng chủ yếu bằng nhà nước và thông qua nhà nước, lấy cải cách hành chính làm trọng tâm.

- Từng bước chuyên nghiệp hoá đội ngũ cán bộ, công chức để nâng cao chất lượng, hiệu quả, gắn với quá trình hiện đại hoá nền hành chính đạt yêu cầu trình độ của khu vực và thế giới.

3. Nội dung cụ thể

Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 là vấn đề chiến lược, vì vậy, các nội dung cải cách được lựa chọn mặc nhiên phải đảm bảo tính hệ thống, tính khả thi của quá trình xây dựng một nền hành chính mới, một mô hình tổ chức hành chính phù hợp với thời kỳ phát triển mới, hội nhập của đất nước. Do đó, các nội dung cần ưu tiên, tập trung thực hiện là:

3.1. Tiếp tục hoàn chỉnh thể chế quản lý nhà nước mới đảm bảo tính đồng bộ, tính hệ thống, tính khả thi của thể chế pháp luật gắn với mục tiêu cải cách, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, đảm bảo công khai, minh bạch và tính dễ áp dụng trong thực hiện các quan hệ nhà nước với dân. Công chức và cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định.

- Hai loại thể chế tiếp tục được ưu tiên hoàn chỉnh là: thứ nhất, thể chế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - hội nhập kinh tế quốc tế; thứ hai, thể chế tổ chức, vận hành của bộ máy Chính phủ và chính quyền các cấp phù hợp.

- Tiếp tục thực hiện Đề án 30, điều chỉnh hợp lý các quy định về thủ tục hành chính trong các văn bản luật, pháp lệnh và pháp quy của Chính phủ tới năm 2012, kiểm soát chặt chẽ các quy định về thủ tục hành chính trong các văn bản pháp luật mới ban hành. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế "một cửa - liên thông và hiện đại" ở tất cả các cấp.

- Sớm ban hành Luật trưng cầu dân ý; Luật về quyền được cung cấp thông tin của dân; Luật về tổ chức xã hội.

3.2. Tiếp tục cải cách, cơ cấu lại Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ và chính quyền địa phương các cấp.

- Xác định rõ nội dung, quyền, trách nhiệm quản lý hành chính vĩ mô của Chính phủ, làm rõ nhiệm vụ của tập thể Chính phủ, vai trò, nhiệm vụ, thẩm quyền trách nhiệm của cá nhân Thủ tướng Chính phủ trong thực hiện quyền hành pháp - hành chính mới.

- Tổ chức bộ máy Chính phủ nhỏ; các bộ, cơ quan ngang bộ với số lượng khoảng 20 theo mô hình tổ chức bộ đa ngành, đa lĩnh vực có chức năng quản lý nhà nước thống nhất về ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước và cơ cấu Chính phủ phù hợp để ổn định lâu dài cho quản lý phát triển. Xác định rõ vai trò của bộ trưởng, là người đứng đầu hành chính về ngành, lĩnh vực và trách nhiệm tham gia hoạt động chung của Chính phủ với tư cách thành viên Chính phủ.

- Kiên quyết tách chức năng quản lý hành chính nhà nước của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ, bộ trưởng khỏi chức năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, sự nghiệp, dịch vụ công của các tổ chức sự nghiệp theo yêu cầu độc lập và tự chủ theo pháp luật. Chính phủ tổ chức cơ quan chuyên trách quản lý thống nhất các doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ không điều hành nền kinh tế thị trường mà giữ vai trò định hướng chiến lược, tạo khuôn khổ thể chế cho kinh tế mọi thành phần phát triển, kiểm soát, điều tiết và can thiệp vào nền kinh tế khi cần thiết. Đây là bản chất quản lý nhà nước phù hợp với nền kinh tế thị trường.

- Thực hiện tổ chức lại chính quyền địa phương theo 2 cấp chính quyền địa phương hoàn chỉnh có HĐND và UBND tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ sở xã, thị trấn, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và một cấp hành chính ở huyện, quận, phường có uỷ ban hành chính.

- Tiến hành phân công, phân cấp mạnh hơn cho các cấp chính quyền để phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo và tự chịu trách nhiệm của chính quyền từng cấp trong thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước và phát triển trên địa bàn. Sớm có bộ luật về phân cấp - phân quyền.

3.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đảm bảo chất lượng theo hướng chuyên nghiệp, có chế độ tiền lương tương xứng.

- Tập trung rà soát đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan chính quyền các cấp căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh công chức mới theo vị trí làm việc của công chức. Tiến hành cơ cấu lại công chức các cấp làm cơ sở cho tiếp tục tinh giản biên chế, đồng thời tuyển chọn, bổ sung lực lượng công chức mới đảm bảo các tiêu chuẩn vị trí công chức.

- Tiến hành cải cách cơ bản tiền lương và thu nhập của công chức có sức cạnh tranh với khu vực tư. Đây là vấn đề có tính đột phá của việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, là động lực của công chức trong thực thi công vụ một cách tận tuỵ, trung thành với ý thức trách nhiệm phục vụ cao, thực sự là "công bộc" của dân.

- Thực hiện triệt để thi tuyển cạnh tranh đầu vào công chức và thi tuyển vào các vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp để thực sự tuyển chọn được người tài, có năng lực, phẩm chất vào nền công vụ. Chấm dứt việc tuyển chọn, bổ nhiệm vào công chức rồi mới đi học. Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng tiền công vụ và trước bổ nhiệm vào chức vụ lãnh đạo, quản lý. Xây dựng quy định về chế độ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hàng năm trong nền công vụ về nghiệp vụ, về kỹ năng hành chính và các chủ trương, chính sách mới.

3.4. Về cải cách tài chính công.

Vấn đề sử dụng tài chính công có hiệu quả là yêu cầu của cải cách nền hành chính, giai đoạn này cần ưu tiên vào một số nội dung:

- Làm rõ nội dung quản lý ngân sách, thẩm quyền, trách nhiệm cụ thể của từng cấp ngân sách tương ứng với từng cấp chính quyền (bộ, ngành, tỉnh, cơ sở) trong việc tổ chức thu, chi ngân sách.

- Xây dựng được chế độ dự toán ngân sách theo kết quả đầu ra và mục tiêu quản lý của từng đơn vị hành chính, khắc phục việc cấp ngân sách theo biên chế.

- Tiến hành cải cách, cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng hợp lý, khoa học, được sử dụng đúng và hiệu quả; điều chỉnh cơ cấu giữa đầu tư cơ sở hạ tầng, nhiệm vụ quốc phòng an ninh, xoá đói giảm nghèo với chi thường xuyên cho bộ máy quản lý và chi tiền lương công chức xứng đáng.

- Hoàn thiện chế độ kiểm toán nhà nước, kiểm soát độc lập và kiểm toán nội bộ bất kỳ cơ quan, tổ chức nào có sử dụng ngân sách nhà nước.

3.5. Hiện đại hoá nền hành chính.

- Chuẩn hoá theo tiêu chuẩn, từng bước hiện đại hóa trụ sở làm việc của các cơ quan, tổ chức nhà nước các cấp. Hoàn chỉnh các mẫu quy hoạch, thiết kế trụ sở từ cấp xã, cấp huyện, cấp tỉnh và bộ, ngành Trung ương theo hướng tổ chức các trung tâm hành chính, tạo thuận lợi cho người dân tới giải quyết công việc, lấy vị trí giao dịch thuận lợi với dân làm trung tâm của các trụ sở - tập trung vào nơi tổ chức giao dịch "một cửa liên thông - hiện đại".

- Áp dụng triệt để việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính các cấp làm cơ sở cho việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành kịp thời, chính xác các nhiệm vụ giữa các cấp chính quyền từ trung ương tới cơ sở và được xử lý một cách hệ thống. Mặt khác, ứng dụng công nghệ thông tin để thực hiện công khai, minh bạch các chính sách, pháp luật và quy định hành chính với người dân, tổ chức, doanh nghiệp, tạo điều kiện nhanh nhất trong việc giải quyết các công việc của dân, tránh các biểu hiện sách nhiễu, phiền hà và tham nhũng.

4. Về chỉ đạo điều hành cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020

Kinh nghiệm thực tiễn thực hiện Chương trình cải cách hành chính tổng thể giai đoạn 2001-2010 và kinh nghiệm các nước cải cách thành công, cần tập trung chỉ đạo theo hướng:

4.1. Thành lập uỷ ban cải cách nhà nước thống nhất cả cải cách lập pháp - tư pháp - hành pháp để đảm bảo sự chỉ đạo thống nhất, đồng bộ các vấn đề cải cách trong hệ thống chính trị (điều này Hội nghị Trung ương 7 khoá VIII đã xác định, song sau đó không thực hiện đã làm chậm và giảm hiệu quả tiến trình đổi mới, cải cách vừa qua).

4.2. Đầu tư một số nguồn lực cần thiết về tài chính, phương tiện cho tổ chức chỉ đạo cải cách hành chính, cho việc làm thí điểm, tổng kết, tổ chức nhân rộng để tạo khả năng thực hiện nhanh, có trọng điểm các nội dung cải cách.

4.3. Kiện toàn hệ thống thông tin, truyền thông về cải cách hành chính, tạo cơ chế tham gia, giám sát của các tổ chức xã hội, của người dân đối với tiến trình cải cách hành chính.

4.4. Xây dựng bộ tiêu chí và quy tắc đánh giá kết quả cải cách hành chính các cấp, kết hợp đánh giá theo định kỳ 6 tháng, 1 năm, 5 năm theo nội bộ của hệ thống tổ chức bộ máy hành chính; có chế độ đánh giá độc lập từ bên ngoài của các tổ chức dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp hoặc các tổ chức xã hội, phi chính phủ nhằm nâng cao tính khách quan, trung thực và sự minh bạch trong tiến trình cải cách, tạo áp lực từ phía nhân dân, của toàn xã hội đối với tiến trình đổi mới, cải cách 

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.