Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 26/09/2011 18:56 (GMT+7)

Bài học từ Hiến pháp 1946: ý chí nhân dân

1. Điều gì làm nên giá trị của Hiến pháp 1946?

Những giá trị nội dung của bản Hiến pháp 1946 có thể được tóm lược ở mấy điểm sau đây: nguyên tắc chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân; phân công quyền lực mạch lạc giữa ba cơ quan Nghị viện nhân dân, Chính phủ, và Tòa án; những hình thức kiểm soát quyền lực như chế độ bất tín nhiệm Nội các, chế độ phủ quyết tương đối các luật của ngành lập pháp; chế độ tư pháp độc lập; các dân quyền cơ bản.

Tại sao bản Hiến pháp 1946 lại có thể đạt được những giá trị như vậy? Một số ý kiến có thể cho rằng điều này bắt nguồn từ chỗ bản hiến pháp được soạn thảo bởi những con người ưu tú của dân tộc vào thời điểm đó dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh- Chủ tịch Ủy ban Dự Thảo Hiến pháp. Điều này có phần đúng, nhưng có những lý do có tính chất bản chất hơn.

Một bản hiến pháp thành văn, nếu thực sự chính đáng, không gì hơn là sự biểu đạt thành ngôn ngữ của luật cơ bản một trật tự, một trạng thái và những mong muốn thực tế của một cộng đồng chính trị. Hơn một trăm năm trước đây, GS Christopher Tiedeman (1857-1903), một nhà hiến pháp học kinh điển của nước Mỹ, đã cho rằng: “các hiến pháp chỉ hiệu quả khi các nguyên tắc của nó cắm rễ trong đặc tính của quốc gia, và do đó, là một sự phản ánh trung thành của ý chí quốc gia.”[1] Tiedeman gợi lại rằng lịch sử nhân loại không thiếu những trường hợp hiến pháp được áp đặt một cách tùy tiện lên người dân và do vậy không hiệu quả do không phản ánh những mong muốn thực sự của người dân. Để minh chứng, nhà hiến pháp học này đưa ra trường hợp Locke soạn thảo hiến pháp cho người Carolinasmà những nguyên tắc của nó không phù hợp với người bản địa và trường hợp Napoleon Bonaparte soạn thảo hiến pháp cho những vùng chiếm đóng[2].

Trên cơ sở nguyên tắc chung đó, chúng tôi cho rằng điều thực sự tạo nên giá trị của Hiến pháp 1946 chính là ở chỗ bản hiến pháp này phản ánh một cách trung thành trạng thái chính trị và những nhận thức, mong muốn của người dân Việt Nam vào thời điểm đó về những giá trị hiến pháp dân chủ, mà điều này đến lượt nó là kết quả của cả một quá trình vận động hiến pháp lâu dài gần 40 năm của các khuynh hướng khác nhau trước khi bản hiến pháp được ban hành vào ngày 09 tháng 11 năm 1946. Dưới đây, chúng tôi sẽ giải thích cụ thể luận điểm này.

Từ những năm đầu của thế kỷ 20 cho đến trước khi bản Hiến pháp 1946 ra đời, Việt Nam chứng kiến những cuộc thảo luận về hiến pháp và tương lai của hiến pháp ở quốc gia có lẽ đa dạng và sôi nổi chưa được lập lại có cho đến lúc này. Thông qua những cuộc thảo luận này, những giá trị của chủ nghĩa hợp hiến (constitutionalism) hiện đại được du nhập vào Việt Nam, khơi dậy những nhận thức, mong muốn trong nhân dân và thúc đẩy những vận động thực tế về các giá trị hiến pháp dân chủ.

Nửa đầu thế kỷ 20, khi Việt Nam còn là một nước thuộc địa-nửa phong kiến, chủ nghĩa hợp hiến hiện đại đã được du nhạ
̂p mạnh mẽ vào Việt Nam bắt nguồn từ những sự ảnh hưởng khác nhau. Trước tiên đó là sự ảnh hưởng từ những cuộc cải cách hiến pháp ở những quốc gia đồng văn như Nhật Bản và Trung Quốc. Cuộc cách mạng Minh Trị (1868-1898 ) trong vòng 30 năm đã chuyển Nhật Bản từ một tập hợp của các vương quốc phong hiến phi tập trung thành một nhà nước tư bản hiện đại. Xét về mặt chính trị và pháp lý, nó đã thiết lập một chính quyền hợp hiến có nhiều điểm tiếp cận với những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây hiện đại.

Vào thời điểm diễn ra cách mạng Minh trị, những người yêu nước Việt Nam còn đang phải vật lộn với những cuộc khởi nghĩa sớm thất bại như phong trào Cần Vương nên chỉ có những ý tưởng lờ mờ về duy tân Nhật Bản. Phải đến khi Nhật chiến thắng trong chiến tranh Nga- Nhật (1904-1905), người Việt yêu nước mới bừng tỉnh về sức mạng của hiện đại hóa trong việc gìn giữ độc lập. Điều này dẫn đến sự quan tâm của người Việt yêu nước đối với duy tân Nhật Bản nói chung và Hiến pháp Minh Trị nói riêng.

Cùng với duy tân Minh Trị, cách mạng Trung Quốc cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy người Việt yêu nước tìm đến những giá trị hiện đại, gồm cả các giá trị hiến pháp. Họ đặc biệt hứng thú với Cuộc cách mạng 100 ngày dưới sự lãnh đạo của Khang Hữu Vi, Cách mạng Tân Hợi của Tôn Trung Sơn, và cải cách hiến pháp dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Lương Khải Siêu.

Cánh mạng Nhật Bản và Trung Quốc thúc đẩy người Việt yêu nước hồi đầu thế kỷ trước tìm đến Tân thư, những sách chứa đựng những kiến thức mới, gồm cả các kiến thức về hiến pháp, chính trị, luật pháp, được du nhập vào Nhật Bản, tràn sang Trung Quốc, rồi từ kênh này vào Việt Nam qua những cảnh Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng, nơi có đông đảo Hoa kiều và có cả những đoàn thể cách mạng Trung Quốc.[3] Thông qua làn sóng Tân thư, những tác phẩm quan trọng của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây như Tinh thần pháp luật của Montesquieu và Khế ước xã hội của Rousseau đã được người Việt yêu nước đón nhận nồng nhiệt, với nhan đề được dịch lúc đó là Vạn pháp tinh lý và Xã ước. Cũng thông qua Tân thư, người Việt yêu nước ý thức được sự thực hành của chính quyền hợp hiến ở các quốc gia Âu Mỹ và sự đang mở rộng của nó ở các quốc gia Phương Đông.

Hơn nữa, vào đầu thế kỷ XX, việc giao lưu văn hoá được phát triển, mở ra điều kiện cho nhiều nhà trí thức Việt Nam đi nước ngoài, từ những nước phương Đông sớm có chính quyền hợp hiến như Nhật Bản hoặc đang tranh đấu cho chính quyền hợp hiến như Trung Quốc đến những nước là quê hương của chính quyền hợp hiến như Pháp, Mỹ. Phan Bội Châu đã đi Hồng Công rồi sang Nhật Bản, mở ra phong trào Đông Du. Phan Châu Trinh cũng sang Hồng Công rồi từ đó cùng Phan Bội Châu sang Nhật Bản, và sau sang Pháp 14 năm.

Hồ Chí Minh cũng có nhiều năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tận mục sở thị thực tiễn của các chính quyền hợp hiến ở Pháp, Mỹ. Nhiều trí thức đến nước Pháp du học: Nguyễn An Ninh tốt nghiệp cử nhân luật học Đại học Sorbonne, Paris, 1920; Phan Văn Trường đỗ tiến sĩ luật học tại Pháp; Luật sư Phan Anh cũng đã chuẩn bị bảo vệ luận án tiến sĩ luật học ở Pháp năm 1938 do Thế chiến thứ nhất bùng nổ nên phải về nước. Một số người khác cũng đến Pháp trong một số hoạt động khác: Nguyễn Văn Vĩnh sang Pháp dự hội nghị đấu xảo Marseille năm 1906; Phạm Quỳnh cũng đã sang Pháp dự triển lãm năm 1922.

Trên những cơ sở đó, chủ nghĩa hợp hiến đã được tiếp thu ở Việt Nam bởi nhiều phong trào, nhiều tổ chức. Có thể phân loại những nhân vật và tổ chức đóng góp vào các cuộc thảo luận về hiến pháp và truyền bá chủ nghĩa hợp hiến vào Việt Nam nửa đầu thế kỷ trước thành 7 nhóm sau: (1) Những nhà nho yêu nước hay là những trí thức truyền thống như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng cùng các tổ chức, phong trào do họ lãnh đạo hoặc ảnh hưởng trực tiếp như Đông Du (1904 - 1909), Duy Tân (1906 - 1908), Đông Kinh Nghĩa Thục (1907); (2) Những trí thức Tây học có khuynh hướng dân tộc như Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường và các tờ báo dưới sự ảnh hưởng của họ như La cloche fêlée [1923-1926] và L’Annam [1926-1928], Phan Anh và nhóm Thanh Nghị; (3) Những người thân Pháp như Nguyễn Văn Vĩnh và Đông Dương tạp chí [1913-1919], Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí [1917-1933], Bùi Quang Chiêu và Đảng lập hiến ở Nam Kỳ; (4) Những người cộng sản như Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản; (5) Những nhà văn như Nguyễn Tường Tam và nhóm Tự lực Văn Đoàn; (6) Những người có nguồn gốc hoàng triều như Cường Để, Bảo Đại; (7) Những nhà hoạt động tôn giáo như Huỳnh Phú Sổ và Phật giáo Hòa Hảo[4].

Thông qua sự vận động đa dạng của các cá nhân, các tổ chức nói trên, những nội dung cơ bản của chủ nghĩa hợp hiến được du nhập vào Việt Nam . Những bài viết, các cuộc thảo luận và các cuộc vận động của họ đã khơi dậy nhận thức và mong muốn của người Việt về những giá trị căn bản của một trật tự hợp hiến hiện đại như: hiến pháp thành văn, chủ quyền nhân dân, dân quyền, phân chia quyền lực, và tư pháp độc lập.

Đặc biệt, có thể kể ra đây sự ảnh hưởng của những tư tưởng hiến pháp trong “Tân Việt Nam” (1907) của Phan Bôi Châu; “Dân trị và Quân trị chủ nghĩa” (1925) của Phan Châu Trinh; Diễn văn đọc trước Viện dân biểu Trung Kỳ ngày 1/10/1928 của Huỳnh Thúc Kháng; thơ văn của Đông Kinh Nghĩa thục (tiêu biểu là “Văn minh Tân học sách”); “Bản án Chế độ Thực dân Pháp”(1925-1926), “Việt Nam Yêu Cầu Ca”(1922), và “Tuyên ngôn Độc lập” (1945) của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh; Các bài viết của Phan Anh trên Tạp chí Thanh Nghị từ 1942-1945, tiêu biểu có thể kể đến như “lập hiến”, “vấn đề đại diện chính trị”, “chính thể tổng thống”, “dân quốc và Hiến pháp Trung Hoa”.

Mặc dù chủ trương hiến pháp của các cá nhân, tổ chức và các phong trào nói trên rất khác nhau (Phan Bội Châu lúc đầu ủng hộ quân chủ lập hiến, sau chuyển sang cộng hòa lập hiến; Phan Châu Trinh trước sau vẫn là “thủ xướng cộng hòa”; Hồ Chí Minh chủ trương chế độ dân chủ nhân dân, Phan Anh lại có khuynh hướng về chế độ Tổng thống…), nhưng điểm gặp nhau giữa họ là Việt Nam cần phải thoát khỏi lối cai trị độc đoán kiểu thực dân- nửa phong kiến và xác lập một chính quyền hợp hiến hiện đại.

Về mặt hiệu quả, không phải tất cả các kế hoạch hiến pháp của họ đều được hiện thực hóa, nhưng họ đều thành công ở điểm: đóng góp vào việc đánh thức mấy mươi triệu đồng bào đang trong vòng nô lệ những ý niệm và mong muốn về một chính quyền hợp hiến mà thế giới và các quốc gia “đồng văn đồng chủng” đã phát triển và đang thực hành, và do vậy thúc đẩy những nỗ lực của đồng bào tranh đấu cho một trật tự chính trị-pháp lý như thế.

Hệ quả là, vào thời điểm trước khi Hiến pháp 1946 ra đời, người Việt về cơ bản đã nhận thức và mong muốn sâu sắc về những nguyên tắc căn bản của  một chính quyền hợp hiến hiện đại để thoát khỏi gông cùm của chế độ cai trị độc đoán thuộc địa- nửa phong kiến. Trong tâm thức của người Việt bấy giờ ngự trị một cách phổ biến những ý niệm và mong muốn thực tế về “hiến pháp”, “dân chủ”, “dân quyền”, và “cộng hòa.” Do vậy, sự ra đời của Hiến pháp 1946 có thể coi là một sự định chế hóa những nhận thức và nguyện vọng phổ biến đó của quốc dân.

Tóm lại, có thể rút ra rằng bối cảnh chính trị tự do cho phép những xu hướng chung, nhận thức chung, và nguyện vọng chung của quốc dân về các giá trị của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại được phán ánh trong các cuộc thảo luận chính thức về soạn thảo hiến pháp của Ủy ban dự thảo hiến pháp và Quốc hội lập hiến. Điều đáng ghi nhận đối với những nhà thảo hiến 1946 là ở chỗ: họ đã biểu đạt những nhận thức chung và nguyện vọng chung của xã hội được hình thành trong gần 40 năm dưới dạng một văn bản đơn hành với ngôn ngữ pháp lý đặc trưng của luật hiến pháp.

2. Ý nghĩa đối với Sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam hiện nay

Cuộc cải cách hiến pháp sắp tới là một cuộc đối thoại giữa Nhà nước và Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cuộc đối thoại sẽ đi đến đâu tùy thuộc một phần lớn vào việc mức độ xác lập những nhận thức chung và nguyện vọng chung trong Nhân dân về những giá trị hiến pháp.

Điều này lại tùy thuộc một phần không nhỏ vào vai trò của trí thức trong nước, các định chế giáo dục và học thuật, các phương tiện truyền thông trong việc thức nhận xã hội về những giá trị hiến pháp mà cộng đồng thế giới và khu vực đang chia sẻ, đồng thời xã hội Việt Nam cũng thực sự mong muốn. Trong số những giá trị đó, có một số giá trị cổ điển đã được phản ánh trong hiến Pháp 1946 như chủ quyền lập hiến thuộc về nhân dân hay dân quyền căn bản. Tuy nhiên, có những giá trị được ổn định về sau trong tiến trình phát triển của hiến pháp thế giới mà Hiến pháp 1946 chưa phản ánh, như Tòa án hiến pháp.

Để đóng góp vào quá trình thức nhận xã hội đối với các giá trị hiến pháp hiện đại, trí thức Việt Nam hiện nay, đặc biệt là các nhà luật học, luật sư, sẽ rất cần sự tiếp tục khí phách tranh đấu cho các giá trị hiến pháp của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, Vũ Đình Hòe... Các định chế giáo dục- học thuật, đặc biệt là các trường luật, sẽ rất cần sự tái sinh của tinh thần Đông kinh Nghĩa thục. Các phương tiện truyền thông cũng sẽ cần tiếp nối những nỗ lực của Tiếng Dân hay Thanh Nghị.

---
[1] Christopher Tiedeman, The Unwritten Constitution of the United States : a Philosophical Inquiry into the Fundamentals of American Constitutional Law (New York: William S.Hein& Co., Inc, 1974), p 18.
[2] Như trên, p.20.
[3] Xem, Trần Văn Giàu, Sự Phát Ttriển của Tư tưởng ở Việt Nam, Tập II (Hà nội: NXB Khoa học xã hội, 1973), tr.26.
[4] Sự phân loại là của chúng tôi. Chi tiết hơn về hoạt động của các cá nhân và tổ chức này, xem: Phan Đăng Thanh, Tư tưởng Lập hiến Việt Nam nửa đầu Thế kỷ 20 (Hà Nội: NXB Tư pháp, 2006)

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.