Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 26/05/2005 15:52 (GMT+7)

“Bà Chúa” nấm linh chi

Cho đến nay PGS.TS Nguyễn Thị Chính đã dành trọn hơn 30 năm của đời mình cho những cây nấm nhỏ bé. Bà là một trong những người tiên phong trong việc nghiên cứu trồng nấm ở nước ta và vinh dự được nhận bằng phát minh sáng chế về công nghệ sản xuất nấm trên nguyên liệu không thanh trùng do nước ngoài trao tặng.

Điều đặc biệt ở nhà khoa học nữ này vừa nghiên cứu khoa học, vừa ứng dụng vào thực tế tạo ra sản phẩm nấm ăn và nấm dược liệu có tác dụng hỗ trợ chữa nhiều bệnh hiểm nghèo…


Hành trình cùng cây nấm


“Ở Tiệp Khắc và các nước châu Âu, người nông dân sử dụng các chất thải nông nghiệp để sản xuất nấm với qui mô lớn và rất hiệu quả, còn ở Việt Nam thì có quá nhiều những chất thải này nhưng chẳng ai dùng vào việc gì” - TS Chính kể lại với nụ cười vui, khi được hỏi lý do chọn nấm để nghiên cứu.


Trong mười năm học tập và nghiên cứu sinh ở Tiệp Khắc, bà đã say sưa nghiên cứu, tìm hiểu về cây nấm. Năm 1986, bà vinh dự nhận bằng sáng chế do Tiệp Khắc trao cho với công trình nghiên cứu “Sản xuất nấm sò bằng công nghệ lên men vi sinh không thanh trùng”. Kết quả nghiên cứu được áp dụng thành công ở các cơ sở trồng nấm Tiệp Khắc, lúc đó cho năng suất tăng lên gấp đôi.


Đầu năm 1987, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề tài “Vi sinh vật trong công nghệ sản xuất nấm”. “Có rất nhiều lời mời hấp dẫn ở lại làm việc cho họ, nhưng tôi nghĩ cần phải đưa những gì đã nghiên cứu, đã học được về phục vụ cho đất nước, cho người dân của mình”, bà tâm sự.


PGS.TS Nguyễn Thị Chính sinh năm 1947. Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Giải Ba Giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam năm 2002.Hai bằng Lao động sáng tạo của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Huy chương “Vì sự nghiệp giáo dục”. Huy chương “Vì sự nghiệp khoa học công nghệ”.

Về nước, bà bắt tay ngay vào việc triển khai ứng dụng công nghệ sản xuất nấm. Công việc quả là không dễ dàng, bởi lúc đó công nghệ sản xuất nấm ở nước ta còn quá xa lạ. Nhiều người chưa biết đến nấm như một món ăn, thị trường tiêu thụ thì không có. Rồi những khó khăn về phòng thí nghiệm và nơi nhân giống. Căn nhà 16m 2của bà với 5 nhân khẩu đã trở thành phòng thí nghiệm và nơi trồng thử nấm. Lúc đó bà chỉ có niềm say mê khoa học, muốn ứng dụng những gì mình đã học được chứ chưa nghĩ tới việc làm giàu từ nấm. Sau một thời gian thử nghiệm ở nhà, PGS.TS Nguyễn Thị Chính chính thức đưa cây nấm đi trồng thử ở nhiều nơi. Đầu tiên là trồng ở khu nhà ăn của trường ĐH Kinh tế Quốc dân vì nhà ăn của trường lúc đó nuôi lợn. Họ thì muốn xử lý chất thải gây ô nhiễm, còn bà lại muốn trồng nấm mở trên phân lợn với rơm. Khi việc trồng thử một số loại nấm đã thành công, bà lại tiếp tục hành trình đưa nấm về các vùng nông thôn, trực tiếp hướng dẫn nông dân và nhiều chủ trang trại cách trồng nấm trên các loại chất thải nông, lâm nghiệp có sẵn.


Công nghệ sản xuất nấm sò trên nguyên liệu rơm rạ không thanh trùng của bà đã mở ra hướng sản xuất lớn cho các cơ sở, trang trại trồng nấm vì nó đơn giản, dễ làm, năng suất lại cao, đạt từ 80-100% quả thể so với nguyên liệu khô. Hiện nay loại nấm này đang được triển khai ở nhiều vùng trong nước như: Sơn La, Lai Châu, Thái Bình, Hà Tây, Nghệ An, Lâm Đồng, Đắc Lắc, Vĩnh Long v.v. Ở nhiều nơi, người dân thực sự làm giàu bằng công nghệ sản xuất nấm ăn của bà.


Từ phòng thí nghiệm gia đình đến “bà chúa” nấm linh chi


PGS.TS Nguyễn Thị Chính hiện là thành viên Ban chủ nhiệm CLB nữ khoa học Hà Nội. Giảng viên chính bộ môn Vi sinh, khoa sinh học trường ĐH KHTN (ĐH Quốc Gia Hà Nội). Thành viên mạng lưới nấm quốc tế. Chủ nhiệm đề tài nghiên cứu nấm dược liệu Việt Nam - Hàn Quốc theo Nghị định thư liên Chính phủ. Giám đốc Trung tâm sản xuất và ứng dụng các sản phẩm từ nấm và vi khuẩn.

Sau thành công ở các chủng loại nấm ăn, PGS.TS Nguyễn Thị Chính lại đi sâu vào nghiên cứu các loại nấm dược liệu, đặc biệt công nghệ nuôi trồng quả thể sinh khối linh chi. Bà nói: “Một số nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… rất chú trọng việc nghiên cứu và ứng dụng các loại nấm dược liệu. Các chủng nấm như: nấm linh chi, vân chi, nấm đầu khỉ, đồng tiền…qua nghiên cứu họ đã chứng minh, có khả năng trong việc hỗ trợ chữa một số bệnh như cao huyết áp, tiểu đường, viêm gan B, đặc biệt bệnh ung thư”.


Với công nghệ sản xuất nấm linh chi sinh khối, bà là người đầu tiên ở nước ta sản xuất thành công sinh khối linh chi dạng sợi và được nhận Giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt Nam năm 2002. So với loại nấm linh chi trên thị trường hiện nay (chủ yếu dạng quả thể), thì nấm linh chi do PGS.TS Nguyễn Thị Chính sản xuất là dạng sợi.


Loại nấm này có những thành phần quan trọng như: protein, lipit, đường, vitamin, nguyên khoáng, đặc biệt thành phần polysacharid (chính thành phần này đã được các tác giả trên thế giới khẳng định có hoạt tính chống u).


Trong những năm qua, bà đã kết hợp với các bệnh viện K, Giao thông Vận tải, Xanh-pôn Hà Nội tiến hành thử nghiệm loại nấm này cho rất nhiều bệnh nhân.


Rất nhiều bệnh nhân viêm gan B qua thời gian sử dụng sinh khối linh chi của bà đã thấy cótác dụng rõ rệt, tỷ lệ men gan giảm, tình trạng sức khoẻ tốt. Như trường hợp của anh Nguyễn Huy T (38 tuổi), xét nghiệm ban đầu ở khoa sinh hoá-BV Bạch Mai (tháng 7/2003) có lượng mỡ máu cao, HBsAgdương tính, sau 1 tháng sử dụng sinh khối linh chi, xét nghiệm lại cho thấy âm tính, còn lượng mỡ máu giảm rõ rệt.


Đặc biệt có trường hợp của anh V, giáo viên ở Hà Nội mà tôi được trực tiếp “kiểm chứng”. Năm 2003, bệnh viện K kết luận anh bị bệnh ung thư phổi, với khối u 9 cm. Sau 35 ngày chạy hoá chất, anh V quyết định chuyển sang Đông y. Qua người quen giới thiệu anh tìm đến PGS.TS Nguyễn Thị Chính và dùng thử sinh khối linh chi. Đến tháng 5/2004, anh V đi xét nghiệm lại thì kết quả là khối u không còn, tình trạng sức khoẻ tốt, không còn sụt cân như trước.

Theo đánh giá của BS Nguyễn Đức Hiền - Chủ nhiệm khoa Hồi sức cấp cứu BV Xanh-pôn: “Nấm linh chi không thay thế thuốc được, nhưng có tác dụng hỗ trợ trong việc chữa một số bệnh.

Qua thử nghiệm ở một số bệnh nhân cho thấy sinh khối linh chi mà PGS-TS Nguyễn Thị Chính đang nghiên cứu có một số tác dụng như điều hoà hệ miễn dịch cơ thể, chống lão hoá, hỗ trợ trong việc chữa trị bệnh gan, đặc biệt viêm gan nhiễm độc, chuyển hoá mỡ cao, bệnh cao huyết áp…

Chúng tôi đã có tổng kết đánh giá vấn đề này trong công trình nghiên cứu cấp Nhà nước của PGS-TS Nguyễn Thị Chính. Đề tài đã được nghiệm thu và đạt Xuất sắc”.

Còn theo báo cáo ban đầu của đề tài nhánh “Sử dụng sinh khối linh chi cho bệnh nhân ung thư gan nguyên phát giai đoạn muộn” được thực hiện tại bệnh viện K, kết quả nghiên cứu sử dụng nấm linh chi sinh khối trên 39 bệnh nhân cho thấy: Tác dụng giảm đau đạt 82,8% trường hợp.

Có 86,2% trường hợp cải thiện tình trạng ăn. Về thời gian sống thêm của bệnh nhân: Có 1 bệnh nhân sống đến thời điểm 21 tháng, 2 bệnh nhân sống trên 12 tháng, 11 bệnh nhân sống trên 6 tháng, 29 bệnh nhân sống trên 3 tháng.


Nguyễn Tú

Nguồn: http://www.tienphongonline.com.vn 11/04/2005

Xem Thêm

Tin mới

An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.
VUSTA tổ chức gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 4/2, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức buổi gặp mặt cán bộ hưu trí nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026. Đây là hoạt động thường niên của VUSTA nhằm bày tỏ sự tri ân sâu sắc đối với các thế hệ đi trước - những người đã có những cống hiến tâm huyết cho sự lớn mạnh của “ngôi nhà chung của đội ngũ trí thức KH&CN Việt Nam”.
Quảng Trị: Tập huấn về công tác quản lý Hội
Ngày 05/02, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Quảng Trị tổ chức Hội nghị “Tập huấn về công tác quản lý Hội” cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên trách của các hội thành viên trực thuộc Liên hiệp Hội và một số Hội được Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ trên địa bàn tỉnh.
Đắk Lắk: Người thắp lên ngọn lửa đam mê khoa học cho những học trò ở một vùng quê
Là một giáo viên dạy thể dục, không chỉ rèn luyện thể chất cho học trò, bằng niềm đam mê kỹ thuật và tinh thần tận tụy, thầy giáo Phạm Phóng Viên - giáo viên trường THPT Trần Quốc Tuấn (xã Phú Hòa 1, tỉnh Đắk Lắk) đã âm thầm “truyền lửa” đam mê sáng tạo kỹ thuật cho học sinh, góp phần khơi dậy tư duy, nuôi dưỡng ước mơ và khát vọng vươn xa cho học trò vùng quê.