Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 11/05/2011 21:09 (GMT+7)

Ấn phẩm khoa học và chỉ số kinh tế tri thức

Tóm tắt:Dữ liệucủa Viện thông tin khoa học (Institute of Scientific Information) cho thấy trong 20 năm qua, các nhà khoa học của các nước thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã công bố 165.020 bài báo khoa học trên các tập san được liệt kê trong danh mục ISI, và con số này chiếm khoảng 0,5% tổng số bài báo khoa học toàn thế giới. Ở cấp quốc gia, hệ số tương quan giữa chỉ sốkinh tếtri thức và kết quả nghiên cứu khoa học là 0,94.

Dựa vào mối liên hệ giữa ấn phẩm khoa học và kinh tế tri thức, các tác giả nhận ra 4 nhóm quốc gia trong khối ASEAN: nhóm 1 gồm Singapore; nhóm 2 bao gồm Thái Lan và Malaysia; nhóm 3 có Việt Nam, Indonesia, và Philippines; nhóm 4 gồm Campuchia, Lào, Myanmar, và Brunei.

Kết quả phân tích này cho thấy có một mối liên hệ chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và mức độ "tri thức hóa" của nền kinh tế.

ASEAN là một trong những nền kinh tế năng động nhất thế giới. Với dân số khoảng 600 triệu (tức 9% dân số thế giới), và tổng GDP là 1,8 ngàn tỉ, nền kinh tế ASEAN là một nền kinh tế lớn thứ 9 trên thế giới, và đứng hàng thứ 3 ở châu Á.  Khối ASEAN đã trải qua một thời kỳ tăng trưởng kinh tế liên tục rất đáng kể trong những năm gần đây, với tỉ lệ tăng trưởng trung bình từ 5 đến 6% mỗi năm trong suốt 20 năm qua. Trong những năm gần đây, các nước ASEAN đã và đang tăng cường đầu tư cho khoa học và công nghệ nhằm đạt đến một nền kinh tế mà tri thức là một động lực.

Kinh tế tri thức và nghiên cứu khoa học

Khái niệm kinh tế tri thức ( knowledge-based economyhay knowledge driven economy) được hình thành như một khung lý thuyết mới để đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia. Nói một cách đơn giản nhất, kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó vai trò của tri thức (khi so sánh với tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực vật chất và lao động chân tay) đóng vai trò chủ đạo.

Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển kinh tế có liên quan tới mức độ cạnh tranh về công nghệ, và cạnh tranh công nghệ phụ thuộc vào khoa học và nghiên cứu khoa học. Do vậy, trong nền kinh tế tri thức, nghiên cứu khoa học đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế.

Kết quả của nghiên cứu khoa học thể hiện qua số lượng bài báo khoa học trong những tập san chuyên ngành có bình duyệt quốc tế. Tuy có tới trên 100.000 tập san khoa học trên toàn thế giới, chỉ có những tập san được liệt kê trong danh mục của  Institute of Scientific Information (ISI) là được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận. Các tập san này cũng được công nhận rộng rãi trên thế giới. Cơ sở dữ liệu ISI bao gồm khoảng 10-12% tổng số tạp chí có bình duyệt.

Thật vậy, số bài báo khoa học được công bố trong các tập san ISI là một tiêu chuẩn quan trọng của hoạt động khoa học và là một thước đo của tiến bộ khoa học cho một quốc gia. Do đó, bài báo khoa học cũng được coi là một thành tố kiến tạo nên nền kinh tế tri thức.

Cho đến nay chưa có một công trình nào khảo sát kết quả nghiên cứu khoa học và mối quan hệ của nó với các chỉ báo của nền kinh tế tri thức ở các nước ASEAN. Chúng tôi phân tích dữ liệu ISI để tìm hiểu mối tương quan giữa nghiên cứu khoa học và chỉ số kinh tế tri thức của các nước ASEAN.

Số lượng ấn phẩm nghiên cứu khoa học

Trong khoảng thời gian 1991-2010, 10 nước ASEAN đã công bố 165.020 bài báo nguyên thủy trên các tập san khoa học được liệt kê trong danh mục ISI. Con số này chiếm 0,5% tổng số bài báo khoa học của thế giới. Singapore dẫn đầu khu vực với số lượng bài báo khoa học cao nhất, chiếm 45% tổng số bài báo khoa học của 10 nước. Thái Lan và Malaysia, chiếm [lần lượt] 21% và 16% tổng số ấn phẩm khoa học. Việt Nam (tỉ trọng 6,5%), Indonesia (5%) và Philippines (5%). Nhóm cuối bảng là Campuchia, Lào, Myanmar và Brunei, ấn phẩm khoa học trong 10 năm không đầy con số 1.000 bài, và chỉ chiếm dưới 2% tổng số ấn phẩm khoa học của ASEAN.

Số lượng bài báo khoa học ở tất cả các nước gia tăng đều đặn trong quãng thời gian 1991-2010 ( Biểu đồ 1).  Tính trung bình, tỉ lệ tăng trưởng gộp lại là 13% mỗi năm, và tỉ lệ này chủ yếu là do sự tăng trưởng của Singapore (13%/năm), Thái Lan (15%/năm), và Malaysia (14%).  Việt Nam cũng đạt 13% gia tăng mỗi năm trong cùng kỳ. Tuy nhiên, Indonesia và Philippines có mức tăng thấp nhất (8%/năm).

Khi chia quãng thời gian 20 năm thành hai thập niên 1991-2000 và 2001-2010, có thể thấy tổng số bài báo khoa học của 10 nước trong thời gian 2001-2010 tăng gấp 3,3 lần so với quãng thời gian 1991-2000 ( Bảng 1). Tuy nhiên, tỉ lệ tăng trưởng giữa các nước khác nhau rõ rệt.

Biểu đồ 1. Số ấn phẩm khoa học trong giai đoạn 1991 - 2010 từ các nước Đông Nam Á

Bảng 1.  Số lượng ấn phẩm khoa học (chỉ tính bài báo khoa học nguyên thủy) từ các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 1991 - 2010

Nước

1991 - 2000

2001 - 2010

Số lần gia tăng

Việt Nam

2398

8220

3,43

Campuchia

97

880

9,07

Lào

41

375

9,15

Thái Lan

6673

28148

4,22

Myanmar

189

546

2,89

Malaysia

5366

21203

3,95

Indonesia

2638

5784

2,19

Brunei

210

345

1,64

Philippines

2630

4956

1,88

Singapore

18220

56101

3,07

Tất cả

38462

126558

3,2

Về số lượng, Singapore dẫn đầu với số lượng bài báo khoa học cao nhất, tiếp đó là Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Indonesia, và Philippines.

Về tỉ lệ tăng trưởng, con số cao nhất được ghi nhận ở Campuchia. Số bài báo khoa học từ Thái Lan trong thời gian 2000-2010 tăng 4,2 lần so với thập niên trước. Tỉ lệ tăng trưởng cao này cũng có thể thấy ở  Malaysia (3,9 lần), Việt Nam (3,4 lần), và Singapore (3,1 lần) trong lúc có thể thấy tỉ lệ tăng trưởng thấp ở (2,2 lần) và Philippines (1,9 lần).

Lĩnh vực nghiên cứu

Dùng chức năng phân loại lĩnh vực nghiên cứu, chúng tôi chia ấn phẩm khoa học của ASEAN thành 12 nhóm lớn: nông nghiệp, khoa học cơ bản, khoa học y sinh, hóa học, kinh tế, kỹ thuật, khoa học môi trường, khoa học vật liệu, toán, vật lý, y tế công cộng, và khoa học xã hội. Tổng số bài báo khoa học và tỉ lệ bài của mỗi lĩnh vực nghiên cứu được nêu trong Biểu đồ 2.

Biểu đồ 2. Mối liên hệ giữa số ấn phẩm khoa học (trục hoành) và chỉ số kinh tế tri thức (knowledge economy index, phần trên), và chỉ số sáng tạo (innovation index, phần dưới). Đường kính vòng tròn cho mỗi nước phản ánh số lượng tương đối bài báo khoa học.

Ở Singapore, kết quả nghiên cứu trong kỹ thuật và y sinh học được xếp hạng là lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu. Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận trong nhóm nước thứ hai (Thái Lan và Malaysia), nơi nghiên cứu về khoa học y sinh và kỹ thuật chiếm hơn 70% tổng số ấn phẩm khoa học.

Trong nhóm thứ ba (Việt Nam, Indonesia và Philippines) ấn phẩm về khoa học y sinh và nông nghiệp chiếm phần lớn trong tổng số ấn phẩm khoa học.

Phân tích chi tiết hơn về lĩnh vực nghiên cứu, Bảng 2thể hiện sự khác biệt rõ hơn về hoạt động nghiên cứu khoa học của các nước. Chẳng hạn, ở Singapore, số bài báo khoa học trong lĩnh vực điện tử và kỹ thuật điện, vật lý ứng dụng, khoa học vật liệu và những ngành khoa học mới hơn như công nghệ nano được xếp hạng là những lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu.

Bảng 2. Những lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu trong mỗi nước dựa trên số lượng bài báo khoa học trong thời gian 1991-2000 và 2001-2010

Nước và lĩnh vực nghiên cứu

1991-2000

2001-2010

Số lần gia tăng

Việt Nam

Toán ứng dụng

245

607

2,48

Toán

306

552

1,80

Y tế công cộng, môi trường và sức khỏe nghề nghiệp

127

527

4,15

Vật lý chất rắn

203

420

2,07

Bệnh Truyền nhiễm

64

366

5,72

Khoa học Vật liệu

99

337

3,40

Kỹ thuật, Điện, Điện tử

17

335

19,71

Y học Nhiệt đới

92

305

3,32

Vi sinh học

73

300

4,11

Khoa học Môi trường

62

276

4,45

Khoa học Cây trồng

114

246

2,16

Vật lý ứng dụng

86

245

2,85

Vật lý (Đa ngành)

77

211

2,74

Hóa sinh học và Sinh học Phân tử

82

163

1,99

Thái Lan

Dược lý và Dược học

372

1528

4,11

Khoa học và Công nghệ Thực phẩm

141

1404

9,96

Hóa sinh học Sinh học Phân tử

302

1373

4,55

Miễn dịch học

571

1299

2,27

Bệnh Truyền nhiễm

351

1279

3,64

Công nghệ sinh học, Vi sinh học ứng dụng

199

1214

6,10

Vi sinh học

338

1162

3,44

Y tế công cộng, môi trường và sức khỏe nghề nghiệp

510

1152

2,26

Kỹ thuật Hóa

116

1057

9,11

Khoa học Môi trường

175

1045

5,97

Khoa học Vật liệu

71

988

13,92

Khoa học Cây trồng

317

913

2,88

Y học Nhiệt đới

386

822

2,13

Sản khoa và  Phụ khoa

185

431

2,33

Malaysia

Tinh thể học

458

2961

6,47

Kỹ thuật, Điện, Điện tử

127

1169

9,20

Khoa học Vật liệu

151

1057

7,00

Hóa học

113

947

8,38

Khoa học và Công nghệ Thực phẩm

304

943

3,10

Khoa học Môi trường

151

807

5,34

Công nghệ sinh học ứng dụng

198

776

3,92

Khoa học cao phân tử

222

775

3,49

Vật lý ứng dụng

85

682

8,02

Hóa học, Vật lý học

161

627

3,89

Dược lý và Dược học

235

617

2,63

Hóa học ứng dụng

227

573

2,52

Hóa sinh học và sinh học phân tử

193

460

2,38

Khoa học Cây trồng

243

414

1,70

Hóa học Vô cơ và Hạt nhân

209

346

1,66

Indonesia

Khoa học Môi trường

95

302

3,18

Sinh thái học

92

296

3,22

Khoa học Cây trồng

167

293

1,75

Y tế công cộng, môi trường và sức khỏe nghề nghiệp

144

268

1,86

Dược lý và Dược học

104

237

2,28

Động vật học

90

227

2,52

Địa (Đa ngành)

119

216

1,82

Bệnh Truyền nhiễm

67

208

3,10

Vi sinh học

96

203

2,11

Hóa học, Y

66

191

2,89

Y học Nhiệt đới

99

180

1,82

Miễn dịch học

96

157

1,64

Nông học

125

150

1,20

Dinh dưỡng và Niệu học

102

119

1,17

The Philippines

Nông học

414

518

1,25

Khoa học Cây trồng

452

421

0,93

Nông nghiệp (Đa ngành)

73

412

5,64

Khoa học Môi trường

114

242

2,12

Hải dương học và Sinh học Nước ngọt

242

237

0,98

Ngư nghiệp

215

184

0,86

Y tế công cộng, Môi trường và sức khỏe nghề nghiệp

90

178

1,98

Khoa học Thú y

34

143

4,21

Hóa sinh học Sinh học Phân tử

94

141

1,50

Bệnh Truyền nhiễm

58

138

2,38

Gen và di truyền học

121

135

1,12

Sinh thái học

90

133

1,48

Khoa học đất trồng

187

126

0,67

Khoa học làm vườn

109

98

0,90

Singapore

Kỹ thuật, Điện, Điện tử

2376

7021

2,95

Vật lý Ứng dụng

1030

5372

5,22

Khoa học Vật liệu

1484

5097

3,43

Hóa học, Vật lý

533

2853

5,35

Quang học

452

2615

5,79

Hóa sinh học và sinh học phân tử

656

2292

3,49

Khoa học nano

174

2242

12,89

Hóa học, Đa ngành

291

2111

7,25

Vật lý chất rắn

577

1766

3,06

Cơ khí

748

1668

2,23

Kỹ thuật, Cơ khí

674

1326

1,97

Kỹ thuật tự động

578

1170

2,02

Toán ứng dụng

493

903

1,83

Ở Thái Lan, nghiên cứu về miễn dịch học, y tế công cộng, y học nhiệt đới, dược lý và dược học, khoa học thực phẩm là những ngành đóng góp cao nhất cho số bài báo khoa học của quốc gia.

Những lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu ở Việt Nam là khoa học cơ bản, toán ứng dụng, vật lý ứng dụng và vật lý lý thuyết, y tế công cộng và bệnh truyền nhiễm, tất cả đã đóng góp hơn 30% tổng số bài báo khoa học của cả nước.

Ở Malaysia, nghiên cứu về tinh thể học, khoa học và công nghệ thực phẩm, khoa học về cây trồng, dược lý và dược học là những lĩnh vực nghiên cứu hàng đầu.

Philippines và Indonesia có nhiều bài báo khoa học trong lĩnh vực nông học, khoa học cây trồng, hải dương học, sinh học nước ngọt và ngư nghiệp.

Chất lượng

Để đánh giá chất lượng của các bài báo khoa học, chúng tôi xác định số lượng bài báo nguyên thủy được công bố trong thời gian từ 2001-2005, và tần số trích dẫn giữa thời kỳ này và năm 2010 ( Bảng 3).

Bảng 3.  Tần số trích dẫn và chỉ số H của các bài báo công bố trong thời gian 2001 đến 2005 của các nước ASEAN

Nước

Số bài báo khoa học

Số lượng trích dẫn

Tỉ lệ trích dẫn trung bình

Chỉ số H

Việt Nam

2683

29714

11,1

59

Campuchia

160

2455

15,3

25

Lào

112

1548

13,8

20

Thái Lan

8796

120936

13,8

92

Myanmar

122

1825

15,0

22

Malaysia

5464

49716

9,1

66

Indonesia

2199

26728

12,2

57

Brunei

142

1461

10,3

18

Philippines

1940

25458

13,1

58

Singapore

21995

338654

15,4

104

Ngoài ra, chúng tôi cũng cung cấp chỉ số H cho từng nước. Chỉ số H được tính toán từ số lần trích dẫn và số bài báo, và là một thước đo quan trọng về chất lượng nghiên cứu khoa học.

Singapore và Campuchia có tỉ lệ trích dẫn cao nhất (15,4 và 15.3 trích dẫn/bài báo, theo thứ tự).

Tuy nhiên, khi đánh giá chất lượng dựa trên chỉ số H, nghiên cứu ở Singapore vẫn có tác động cao hơn (chỉ số H là 104), tiếp đó là Thái Lan (92), các nước khác như  Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Philippines có chỉ số H gần tương đương nhau (khoảng từ 57 đến 66).

Với ít số bài báo khoa học, Campuchia, Lào, Myanmar và Brunei có chỉ số H thấp nhất trong các nước ASEAN.

Kinh tế tri thức

Dữ liệu về chỉ số kinh tế tri thức (KEI), chỉ số sáng tạo và công nghệ thông tin truyền thông (ICT) được trình bày trong Bảng 4. Trong 10 nước được phân tích, với bất cứ chỉ báo nào, Singapore vẫn được xếp hạng cao nhất, theo sau là Malaysia và Thái Lan. Những nước khác (như Việt Nam, Indonesia, và Philippines) có chỉ số KEI và chỉ số sáng tạo tương đương, nhưng cao hơn các nước Campuchia, Lào và Myanmar.

Bảng 4.  Chỉ số kinh tế tri thức và những chỉ số liên quan đến tri thức của 10 nước ASEAN

Nước (xếp hạng)

Chỉ số kinh tế tri thức (KEI)

Chỉ số tri thức (KI)

Chỉ số khuyến khích kinh tế

Chỉ số sáng tạo (II)

Chỉ số công nghệ thông tin (ICT)

Việt Nam (100)

3,51

3,74

2,79

2,72

4,85

Campuchia

1,56

1,54

1,63

2,07

0,62

Lào

1,94

2,09

1,47

2,0

2,03

Thái Lan (63)

5,52

5,66

5,12

5,76

5,64

Myanmar

1,34

1,69

0,31

1,30

0,70

Malaysia (48)

6,07

6,06

6,11

6,82

7,14

Indonesia (103)

3,29

3,17

3,66

3,19

2,72

Brunei

NA

NA

NA

NA

NA

The Philippines (89)

4,12

4,03

4,37

3,80

3,60

Singapore (19)

8,44

8,03

9,68

9,58

9,22

Biểu đồ 2cho thấy có một mối liên hệ tuyến tính giữa số lượng bài báo khoa học và KEI hay chỉ số sáng tạo. Theo đó, các nước có KEI cao hơn tương ứng với số bài báo khoa học nhiều hơn. Hệ số tương quan giữa số lượng bài báo khoa học và KEI là 0,96, giữa bài báo khoa học và chỉ số sáng tạo là 0,94.

Dựa vào mối liên hệ giữa ấn phẩm khoa học và chỉ số kinh tế tri thức, có thể chia 10 nước ASEAN thành 4 nhóm rõ rệt: nhóm 1 chỉ có Singapore đứng đầu; nhóm 2 bao gồm Thái Lan và Malaysia; nhóm 3 gồm Việt Nam, Indonesia, và Philippines; và nhóm 4 có Campuchia, Lào, Myanmar, và Brunei.

Có thể nói, nhìn chung, đóng góp của các nước ASEAN cho tri thức khoa học thế giới vẫn còn rất khiêm tốn so với quy mô dân số. Và có một mối tương quan rõ rệt giữa kết quả nghiên cứu khoa học và chỉ số kinh tế tri thức trong các nước ASEAN.

Truy tìm căn nguyên

Châu Á ngày càng được ghi nhận là vùng với nhiều cường quốc khoa học mới trỗi vậy. Từ năm 2006, số lượng bài báo khoa học của Trung Quốc đã đưa họ lên vị trí thứ nhì (sau Hoa Kỳ) về tỉ lệ mà họ chiếm giữ trong kết quả nghiên cứu khoa học toàn cầu. Hàn Quốc và Ấn Độ cũng đang tăng chi ngân sách cho nghiên cứu và phát triển, và đã tạo ra những kết quả đầy ấn tượng trong hai mươi năm qua.

Tuy các nước ASEAN chiếm một phần khiêm tốn trong tổng số bài báo khoa học toàn thế giới, nhưng tỉ lệ gia tăng 15% mỗi năm của các nước này sẽ khiến họ nhanh chóng tăng tỉ lệ đóng góp của mình trong tổng số bài báo khoa học toàn cầu.

Có nhiều cách giải thích cho sự cách biệt lớn giữa các nước về kết quả nghiên cứu khoa học. Ở các nước ASEAN ngân sách nhà nước dành cho nghiên cứu và phát triểncó một vai trò quan trọng trong việc định hình bức tranh nghiên cứu khoa học. Trong lúc Singapore đầu tư lớn cho khoa học và công nghệ [1] thì những nước khác như Việt Nam và Indonesia có mức đầu tư thấp hơn nhiều. Bởi vậy có lẽ cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi bài báo khoa học của Việt Nam, Indonesia và Philippine còn rất khiêm tốn so với Singapore, Thái lan, và Malaysia.

Kinh tếmức độ ổn định xã hộicũng có thể là một cách giải thích khác. Trong khi Việt Nam trải qua nhiều cuộc chiến tranh trong suốt 100 năm qua, các nước khác trong vùng được hưởng một thời kỳ dài ổn định.

Quả vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của Việt Nam chỉ thật sự "cất cánh" từ 1990, khi áp dụng chính sách đổi mới sau một thời kỳ dài khủng hoảng kinh tế và bị cô lập về chính trị. Do vậy, không có gì ngạc nhiên khi thấy kết quả nghiên cứu khoa học của Việt Nam là thấp nhất trong 10 năm đầu (1991-2000) nhưng đã gia tăng nhanh chóng trong thập kỷ kế tiếp.

Một lý do khác cho sự đóng góp khiêm tốn của khoa học ASEAN trong ấn phẩm khoa học toàn cầu là trở ngại về tiếng Anh. Ngoài Singapore và Philippines là ngoại lệ, nhiều người nghiên cứu ở các nước ASEAN còn lại không/chưa quen thuộc với tiếng Anh, và hệ quả là phần lớn công trình nghiên cứu của họ chỉ công bố ở các tạp chí trong nước và không được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu ISI. Điều này có nghĩa là chỉ có một phần nhỏ các bài báo khoa học của giới nghiên cứu châu Á nói chung hiện diện trong các tạp chí được liệt kê trong danh mục ISI.

Một phân tích trước đây cho thấy chỉ có khoảng 10% bài báo y khoa của Trung Quốc được công bố trong những tạp chí của hệ thống PubMed [2].

Ngoài ra, các tác giả ASEAN, cũng như những tác giả không phải người bản ngữ tiếng Anh, đã gặp khó khăn lớn khi muốn công bố bài báo khoa học của mình trên các tập san khoa học sử dụng tiếng Anh [3-4], do "chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trong việc biên tập" còn gọi là "editorial racism" [5], và do thành kiến coi thường những công trình của họ.  Tất cả những nguyên nhân này đã góp phần khiến cho sự hiện diện của giới khoa học ASEAN trong các tạp chí được liệt kê trong danh mục ISI còn khiêm tốn.

Còn nữa

Ghi chú: Chỉ số H bằng 59 có nghĩa là trong thời gian 2001-2005, có 59 bài báo khoa học từ Việt Nam (trong số 2683) được trích dẫn ít nhất là 59 lần. Chỉ số H là một thuốc đo phản ảnh chất lượng nghiên cứu trong mỗi ngành khoa học.

Tài liệu tham khảo:

[1] Arunachalam S, Garg KC (1985) A small country in a world of big science: a preliminary bibliometric study of science in Singapore. Scientometrics 8: 301-313.

[2] Mely B, El Kader MA, Dudognon G, Okubo Y (1998) Scientific publication from China in 1994: evolution or revolution? Scientometrics 42: 3-16.

[3] Stolerman IP, Stenius K (2008) The language barrier and institutional provincialism in science. Drug Alcohol Depend 92: 1-2.

[4] Vasconcelos SM, Sorenson MM, Leta J, Sant'ana MC, Batista PD (2008) Researchers' writing competence: a bottleneck in the publication of Latin-American science? EMBO Rep 9: 700-702.

[5] Tyrer P (2005) Combating editorial racism in psychiatric publications. Br J Psychiatry 186: 1-3.

[6] Svasti MRJ, Asavisanu R (2006) Update on Thai publications in ISI databases 1999-2005. ScienceAsia 32: 101-106.

[7] Okubo Y, Dore JC, Ojasoo T, Miquel JF (1998) A multivariate analysis of publication trends in the 1980s with special reference to South East Asia. Scientometrics 41: 273-289.

[8] Osareh F, Wilson C (1997) Third World Countries (TWC) research publications by disciplines: a country-by-country citation analysis. Scientometrics 39: 253-266.

[9] Waworuntu B, Holsinger DD (1989) The research productivity of Indonesian professors of higher education. Higher Education 18: 167-187.

[10] Hirsch JE (2005) An index to quantify an individual's scientific research output. Proc Natl Acad Sci U S A 102: 16569-16572

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Sách, Tri thức và Khát vọng phát triển đất nước
Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước là một trong những thông điệp của Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 2026. Việc đề cao mối quan hệ mật thiết giữa các giá trị này không chỉ là sự tiếp nối truyền thống hiếu học, mà còn xác lập vai trò quyết định của tri thức đối với sức mạnh tổng thể và sự phát triển bền vững của đất nước.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ 17, khóa VIII: Thống nhất các nội dung chuẩn bị cho Đại hội IX
Chiều ngày 16/4, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), Hội nghị Đoàn Chủ tịch Hội đồng Trung ương lần thứ 17, khóa VIII đã được tổ chức dưới sự chủ trì của đồng chí Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp Hội Việt Nam và đồng chí Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam.
Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhiệm kỳ 2024-2029
Căn cứ số lượng, cơ cấu thành phần Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam khóa X thông qua và tổ chức bộ máy của Ủy ban MTTQ Việt Nam theo mô hình mới. Ngày 12/4/2026, Hội nghị Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã hiệp thương cử nhân sự tham gia Ủy ban, Đoàn Chủ tịch và giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban TƯ MTTQ Việt Nam khóa X, nhiệm kỳ 2024-2029.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn dự Lễ khai mạc Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152
Chiều tối 15/4, giờ địa phương, đêm cùng ngày giờ Việt Nam, tại Istanbul, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã dự Lễ khai mạc Đại hội đồng Liên minh Nghị viện thế giới lần thứ 152 (IPU - 152) với chủ đề “Nuôi dưỡng hy vọng, bảo đảm hòa bình và bảo vệ công lý cho các thế hệ tương lai”.
Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX tổ chức phiên họp lần thứ nhất
Sáng ngày 16/4, Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031 đã tổ chức phiên họp lần thứ nhất, đánh dấu bước khởi đầu chính thức cho công tác tổ chức Đại hội.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
Sáng 15/4, sau Lễ đón cấp Nhà nước tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh (Trung Quốc) theo nghi thức cao nhất dành cho nguyên thủ quốc gia, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã hội đàm với Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình.
Dấu ấn Mặt trận trong thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
Thực hiện sự lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp và các quy định về quyền và trách nhiệm của MTTQ VN, MTTQ VN các cấp đã chủ động, tích cực, sáng tạo, linh hoạt phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan đã tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 -2031, bảo đảm thời gian, đúng quy định của pháp luật.
Trung tâm SUDECOM khởi động dự án hỗ trợ thanh niên dân tộc thiểu số tại tỉnh Lào Cai
Ngày 7/4, tại tỉnh Lào Cai, Đoàn công tác của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tham dự Hội nghị triển khai dự án “Hỗ trợ cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo việc làm cho thanh niên cộng đồng các dân tộc miền núi tại tỉnh Lào Cai” của Trung tâm Hỗ trợ phát triển bền vững cộng đồng các dân tộc miền núi (SUDECOM).
Lâm Đồng: Tìm giải pháp tiếp cận mới trong chăm sóc sức khỏe người trẻ
Sáng ngày 10/4, tại Trường Cao đẳng Bình Thuận, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh phối hợp với Trường Cao đẳng Bình Thuận tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Tác động của nhịp thở có kiểm soát lên biến thiên nhịp tim (HRV) và nồng độ Cortisol huyết thanh ở người trẻ”.
Vĩnh Long: Hội thi Trần Đại Nghĩa là "người dẫn đường" cho phong trào khoa học công nghệ của tỉnh
Trong bối cảnh toàn quốc đang quyết tâm thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (STKT) Trần Đại Nghĩa đã không ngừng đổi mới phương thức hoạt động, từ khâu tuyên truyền đến hỗ trợ tác giả, nhằm tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngay tại cơ sở.
Đắk Lắk: Hướng đi xanh từ thủy sản và vỏ dứa
Từ những phụ phẩm tưởng chừng phải bỏ đi trong ngành thủy hải sản và chế biến hàng thủy sản, có một giải pháp kỹ thuật đã mở ra hướng đi mới: sản xuất phân bón hữu cơ sinh học giàu đạm, góp phần phát triển nông nghiệp bền vững và giảm áp lực môi trường.