Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ bảy, 20/09/2008 00:06 (GMT+7)

Ý nghĩa nguyên thủy của hình ảnh “Thái Sơn”

Đọc hai câu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn:

“ Mạch thượng tang, mạch thượng tang,

Thiếp ý quân tâm thùy đoản trường?”

(Dâu trên bờ ruộng, dâu trên bờ ruộng,

Lòng chàng ý thiếp, ai sầu ít ai buồn nhiều?).

Bạn đọc thắc mắc: tại sao lại dâu trên bờ ruộng? Trên bờ ruộng ai trồng dâu?

Hoặc hình ảnh non nước trong bài Thề non nước của Tản Đà, non với nước, cái nào tượng trưng cho nam, cái nào tượng trưng cho nữ?

Có nhiều hình ảnh tượng trưng trong văn thơ mà người đọc thấy không lôgic, khó lý giải. Những băn khoăn thắc mắc như thế là có lý. Lúc ban đầu hình ảnh tượng trưng của những từ ngữ ấy là gần gũi, dễ hiểu. Nhưng qua hàng ngàn ngàn năm, tư duy con người ngày càng phát triển, những tín hiệu ngôn ngữ dần dần bị xóa nhoà dấu vết của cái ban đầu mà nó biểu đạt.

M.H.Spenber khi nói về ngôn ngữ cổ xưa khẳng định rằng những tiếng nói đầu tiên của loài người là tiếng gọi người khác giới trong sinh hoạt tính dục, sau đó mới phục vụ công việc làm ăn sinh sống… Dần dần, những tiếng nói đó bỏ hẳn đại bộ phận nội dung tính dục, chỉ nói đến công việc làm ăn. (1)Nhiều tiếng gốc sau đó được thành lập, tiếng nào cũng bắt đầu có ý nghĩa tính dục, nhưng về sau nó mất ý nghĩa đó dần đi”, “…Sự có mặt của tính tưởng tưởng đã được minh chứng đầy đủ trong huyền thoại, tôn giáo, nghệ thuật và ngôn ngữ”(2).

Với những gợi ý như vậy chúng tôi thử tìm tư liệu khảo sát một số “điển tích trong văn chương, như là “núi Thái Sơn” “chim xanh” “dâutrên bờ ruộng”, v..v… Bài viết này tìm hiểu về hình ảnh “ núi Thái Sơn”.

Ca dao Việt Nam có câu: “ Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.Núi Thái Sơn là núi nào? Có biết bao nhiêu núi non mà sao chỉ lấy núi Thái Sơn để ví von? Đó là ngọn núi cao nhất chăng? Sự ví von ngoài ý nghĩa nói công lao to lớn, có ý nghĩa gì khác không?

Chúng ta biết rằng, Việt Nam không có ngọn núi nào mang tên Thái Sơn cả. Chắc chắn Thái Sơn là ngọn núi bên Trung Hoa. Văn chương cổ của Việt Nam dùng văn liệu Trung Hoa là chuyện thường. Trong văn chương cổ của ta, Thái Sơn có khi để chỉ ý nghĩa to lớn: “ Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao” ( Chinh phụ ngâm ), có khi để chỉ sự cao sang, được ngưỡng vọng: “ Thái Sơn Bắc đẩu”, để suy tôn người tài giỏi: “ Thái Sơn lương mộc”v..v…

Nhưng Thái Sơn không phải là ngọn núi cao nhất của Trung Hoa. Từ thời cổ Trung Hoa đã nói đến Tứ Nhạc, rồi Ngũ Nhạc, tức là những dãy núi cao nhất. Thời cổ, Thái Sơn được gọi là Đông Nhạc, ngọn cao nhất của dãy này là 1.524 mét. Đang còn Bắc Nhạc, Tây Nhạc, Nam Nhạc, Trung Nhạc. Trong đó Bắc Nhạc, Tây Nhạc đều cao hơn Đông Nhạc rất nhiều (Bắc Nhạc: 2.017mét, Tây Nhạc: 2.038mét). Rõ ràng Thái Sơn không phải là ngọn núi cao nhất.

Có lẽ ta không thể giải thích qua phương diện tự nhiên của Thái Sơn, mà phải nhìn vào phương diện xã hội, nhân văn. Về phương diện này có thể nêu mấy điểm đối với Thái Sơn:

1. Thái Sơn là ngọn núi được sùng bái.

Đây chính là nơi các đế vương Trung Hoa làm lễ phong thiền. Lễ phong thiền có từ bao giờ thì ta khó đoán định một cách chính xác, nhưng trong sách của Sử ký Tư Mã Thiên đã ghi: “ Từ cổ đế vương nhận mệnh trời (lên ngôi) không ai không làm lễ phong thiền”. Phong thiền là lễ vua chúa tế trời đất. Đắp đất thành đài trên núi Thái Sơn để tế trời gọi là “ phong”, san nền trên núi Lương Phụ kề sát phía nam núi Thái Sơn để tế đất gọi là “ thiền”. Các đế vương đều coi lễ phong thiền là đại điển (lễ lớn).

Thái Sơn nằm trên tỉnh Sơn Đông ngày nay, đó là vùng đất các nước Tề, Lỗ thời nhà Chu(thế kỷ 11 - thế kỷ 3 trước CN). Tề, Lỗ thời đó là những nước còn giữ lại được nhiều sinh hoạt văn hóa cổ. Trong sách Luận Ngữ, Khổng Tử nói: “ Tề một phen biến thành Lỗ, Lỗ một phen biến đổi thì đạt đến đạo xưa”.Đạo xưa chính là tập tục, lễ pháp thời cổ. Cho nên tục phong thiền tồn tại trên đất này là điều dễ hiểu.

2. Thái Sơn được sùng bái từ thời xa xưa, từ thời tiền sử.

Để hiểu từ thời tiền sử không thể chỉ căn cứ theo ghi chép lịch sử, mà còn căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu khác: khảo cổ, thần thoại, truyền thuyết, ngôn ngữ, phong tục v..v…, tức là vào tất cả những gì còn để dấu vết đến ngày nay.

Thái Sơn còn được gọi là Đại Sơn, Đại Tông, Đại Nhạc, Thái Đại.

Xung quanh Thái Sơn có nhiều ghi chép, nhiều truyền thuyết cho ta những thông tin có thể tìm hiểu những hàm nghĩa văn hóa chứa trong nó. Sách Thượng Thư, thiên Thuấn điển nói vua Thuấn đã từng tuần thú đến Đại Tông, thiên Ngũ Đế Kỷ trong sách Sử Ký của Tư Mã Thiên đời Hán nói Hoàng Đế cũng đã từng đến Đại Tông. Hoàng Đế, Thuấn là những nhân vật trong truyền thuyết, thuộc thời kỳ tiền sử. Như vậy ta có thể đoán định sự sùng bái Thái Sơn đã có ngay từ buổi sơ khai của loài người.

Thiên Đàn Cung sách Lễ Ký ghi lại rằng: Khổng Tử dậy sớm, chống gậy đi dạo trước cửa, hát rằng: “ Thái Sơn đổ mất sao? Cây lớn mục nát mất sao? Triết nhân khô héo mất sao?”. Sách kể tiếp, Khổng Tử biết mình sắp chết nên mới hát lên như vậy, ví mình như Thái Sơn, như cây lớn. Quả nhiên Khổng Tử ốm bảy ngày rồi mất. Thái Sơn trong tâm linh người Trung Hoa thời ấy, nhất là những con người thông thái, nhạy cảm như Khổng Tử, chứa chất nhiều hàm ý sâu xa liên quan tới nền nhân văn, tới sự sống của con người.

3. Sùng bái Thái Sơn là sùng bái sự phồn thực, sùng bái giống cái.

Đạo giáo có truyền thuyết rằng người chết hồn sẽ quy tụ về Thái Sơn. Không chỉ Đạo giáo, mà sự sùng tín ấy khá phổ biến. Sách Hậu Hán thư, mục Truyện Ô Hoàn có ghi: “…như người Trung Quốc, khi chết hồn quy về Đại Sơn”. Sách Từ Nguyên, khi giải thích về thần Thái Sơn nói: “ Thời xưa các nơi đều có miếu Đông Nhạc để cúng thờ thần Thái Sơn.” Thần Thái Sơn được Đạo giáo coi là thần chủ của đất. Thần Đất là mẹ của vạn vật, “ hầu hết mọi nơi trên trái đất đều gọi trái đất là Bà mẹ”(Will Durant, Nguồn gốc văn minh). Như vậy, sùng bái Thái Sơn là sùng bái thần Đất, thần Mẹ.

Lời giải thích của sách Công Dương truyện và thiên Tế tự chí của sách Hậu Hán thư về tên gọi núi này cho ta hiểu sâu hơn: “ Đại” (tức      chữ “đại” trong tên gọi “Đại Tông”) là “bào thai”, “tông” là đứng đầu. Là sự giao hòa âm dương, mây chạm đá bay ra, gối kề bên nhau mà kết hợp, phút chốc mưa khắp trời (3), chỉ Thái Sơn mới thế chăng, Thái Sơn mới đứng đầu Ngũ Nhạc chăng?”.

Giải thích của sách Công Dương truyện và sách Hậu Hán thư cho ta biết hai điều: 1,Thái Sơn đứng đầu Ngũ Nhạc không phải vì cao lớn, mà do nó có khả năng giao hòa âm dương, làm ra mây mưa khắp trời, mở đầu cho vạn vật sinh sôi nảy nở. 2, Hình thái biến hóa của Thái Sơn là những động thái của sự kết hợp nam nữ: “ gối kề bên nhau”, “ giao hợp âm dương”… “ Chủ điểm của huyền thoại cổ nhất là trời đất giao hòa với nhau mà sinh vạn vật” (Will Durant, Nguồn gốc văn minh, mục Đối tượng của tôn giáo).

Chúng ta còn có thể lấy tư liệu trong Kinh Dịch để làm sáng tỏ thêm điềm này. Kinh Dịch có quẻ Thái gồm hai quẻ đơn “ Càn” ở dưới và “ Khôn” ở trên tạo thành        . “ Càn” thuộc nam, “ Khôn” thuộc nữ. Tự quái giải thích “ Thái là thông suốt vậy”. Sách Quảng Nhã cũng giải thích “ thái” là “ thông”. Hình tượng của quẻ rõ ràng là một nam, một nữ. Một nam một nữ kết hợp với nhau thì gọi là “ thái”. “ Thái”là thông, là đạo trời thông suốt, sự sống cứ tiếp tục vận hành, sinh sôi nảy nở. Quẻ Cấn, thuộc núi, gồm hai hào âm, một hào dương (ở quẻ đơn). Âm chiếm ưu thế.

Còn nhiều tư liệu khác cho phép ta nghĩ tới “ núi” là liên quan tới nữ tính, tượng trưng cho nữ tính. Ví dụ về câu chuyện tiên. Ta chỉ nghe nói tiên ở trên núi, phương Tây cũng như phương Đông, hầu như không có tiên ở biển, ở sông. Tiên ban đầu chỉ là tiên nữ về sau mới sinh ra tiên ông. “ Hầu hết các vị thần đầu tiên đều thuộc phái đẹp, sau này các nam thần được đưa lên ngang hàng với các nữ thần, có lẽ là do chế độ gia đình phụ hệ đã thay thế”(Will Durant, Nguồn gốc văn minh, mục Nguồn gốc tôn giáo). Ở phương Đông, thư tịch đầu tiên nói tới tiên là sách Trang Tử, ở thiên Thiên địa nói tới cõi tiên. Chữ “tiên” viết bằng chữ Hán là(nhân + sơn), có nghĩa là “người trên núi”. Ở thiên Tiên dao du miêu tả người tiên: “ Ở trên núi Cô Dịch có thần nhân ở, da thịt trắng như băng tuyết, yểu điệu như cô gái đồng trinh…”. Cách miêu tả như vậy cho phép ta nghĩ tới những thần nhân ấy là nữ.

Trong tiếng Hán chúng ta cũng có thể lật lên để tìm những dấu vết tương tự. Tiếng Hán dùng “ Thái Sơn” để chỉ bố vợ (Bố vợ còn được gọi là “nhạc phụ”, “nhạc” ở đây cũng chỉ Thái Sơn). Thái Sơn ở Trung Hoa chỉ “ bố vợ” nghĩa là cũng nghiêng về âm, sang ca dao Việt Nam thì chỉ “ bố”. Những biến dạng như thế là dễ hiểu và là hiện tượng phổ biến.

Ngay câu chuyện truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ của chúng ta cũng nói Âu Cơ giống tiên, quen ở núi.

Tất cả những ghi chép của thư tịch, những truyền thuyết, những hiện tượng ngôn ngữ nêu trên rất đa dạng, song có một điểm chung là đều liên quan đến nữ tính, liên quan đến sự tương giao nam nữ, đến sự giao hòa âm dương, tức là liên quan đến sự sinh sản và sinh tồn của con người. Với con người thủa thơ ấu yếu ớt ấy, trước tự nhiên vĩ đại đầy quyền uy thì điều quan trọng bậc nhất của họ là sự sinh tồn của giống loài. Họ sùng bái sinh thực khí, bộ phận tạo ra sự sinh tồn nhưng cũng đầy huyền bí, đầy thiêng liêng đối với họ.

Qua những cứ liệu và sự phân tích ở trên, có thể đi đến kết luận rằng, Thái Sơn buổi đầu xa xưa ấy tượng trưng cho sự phồn thực của giống loài. Về sau, khi xã hội ngày càng phát triển, con người đã “ văn minh hóa” nó, “ lý luận hóa” nó, gán vào đó những ý nghĩa luân lý, ý nghĩa chính trị sao cho phù hợp với cách nhìn của thế hệ mình.

Mặc dầu vậy, qua những truyền thuyết, thần thoại, ngôn ngữ và những cứ liệu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, vẫn có thể tìm ra ý nghĩ tượng trưng ban đầu của Thái Sơn. Trong ca dao, Thái Sơn tượng trưng cho công cha, tức là vẫn mang bóng dáng của ý nghĩa phồn thực ban đầu. Chỉ khi đi vào văn học bác học, tức là đi vào lĩnh vực nghệ thuật của cái “nhã” thì Thái Sơn chỉ còn lại ý nghĩa tượng trưng cho cái “lớn”, “vĩ đại”. Điều này góp phần khẳng định vị trí của văn hóa dân gian trong nền văn hoá dân tộc.

Còn rất nhiều hình ảnh tượng trưng mang giá trị sâu xa liên quan đến tâm linh nhân loại, liên quan đến sự sinh tồn của nhân loại cần được tiếp tục nghiên cứu. Ở đây trong khuôn khổ bài báo, chúng tôi chỉ nêu lên vấn đề Thái Sơn như một gợi ý để những người quan tâm cùng tiếp tục suy ngẫm vấn đề. Rất mong được trao đổi.

Chú thích:

(1)Freud và phân tâm học,Phạm Minh Lăng, NXB Văn hóa Thông tin, tr 126.

(2)Nhập môn phân tâm học,Sigmund Freud, Nguyễn Xuân Hiến, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 187.

(3)Câu “ phút chốc mưa khắp trời đất” nguyên văn là “bất sùng triêu nhi biến vũ thiên hạ”.Các nhà chú giải xưa đều cho “ Sùng triêu” là khoảng thời gian từ sáng sớm đến lúc ăn cơm sáng. Các từ điển cũng giải thích như thế. Nhưng Khải Lương, tác giả cuốn Lịch sử văn minh Trung Hoa đã khảo chứng, giải thích “ triêu” đây là ẩn ngữ, chỉ chuyện trai gái, “ đối thực” là đồng tính luyến ái, “ triêu thực” là dị tính luyến ái. Quách Mạt Nhược chú Sở từ cũng giải thích “ triêu cơ” là ẩn ngữ chỉ chuyện trai gái ( Sở từ kim dịch , trang 67). Khải Lương giải thích câu trích của Hán thư là: “ không cần cúng tế sinh thực khí mà trời đất giao cảm với nhau như thế, cách thức là chạm vào đá, kê sát vào nhau mà kết hợp”.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.