Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 19/08/2014 20:37 (GMT+7)

Về những chiếc ấn của chúa Nguyễn (Phần I)

  Xem các hoành phi đối liễn, tranh, thư họa… ta phải công nhận rằng sự xuất hiện của ấn chương trên các bức thư pháp, trên văn bản… đã tương hỗ cho nhau tạo thành một chỉnh thể !, mà tôi vẫn thường hay ví von bức thư họa vắng thiếu khuôn dấu cũng tựa như người đẹp mà thiếu đồ trang sức vậy !

Và thật ra, các bức thư pháp không phải chỉ trên chất liệu gỗ, mà còn trên các chất liệu khác như giấy, vải, kim thạch(bi ký chuông vạc đỉnh)… Nếu chữ do chính tay vua viết thì gọi là “ngự đề(1), ngự bút”, còn văn thơ vua làm mà người khác ghi lại thì gọi là “ngự chế”. Ví dụ nếu như các bức thư, công văn do các chúa Nguyễn viết thì cũng có thể gọi là “ngự bút”(2), và trên ấy có dấu triện quyền lực của chúa. Hoặc trên đá thì có  “Tứ công thần bi” khắc  “Ngự sắc”của Minh Vương ban cho Trần Đình Ân năm 1703 (hiện còn tại chùa Bình Trung, Gio Linh, Quảng Trị)(3), cái khánh “Quốc chủ ngự thư”(4) được tìm thấy ở làng La Chữ; hoặc bi ký thì có bia  “Ngự kiến Thiên Mụ tự”(5) do Minh vương Nguyễn Phúc Chu làm năm 1715, và bia  “Sắc tứ… Liễu Quán hòa thượng”(6) năm 1748 của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát… đều có nhiều ấn triện của chúa Nguyễn !

Tôi đã xem một số bi ký thời chúa Nguyễn, một hình thức bức thư pháp, đều có trang trí thêm ấn chương nên tổng thể tác phẩm mỹ thuật rất đẹp; trong khi các bi ký thời Nguyễn, dù chép “ngự chế thi”, nhưng lại không có ấn chương, không hiểu vì lý do gì ?!

Về chức năng, có ấn chỉ dùng để khẳng định tính chân thực, tức biểu thị quyền lực, nhưng có ấn lại để biểu hiện là một đề mục trang trí để biểu hiện sự khởi đầu và kết thúc của văn bản, và cũng có loại ấn dùng để khẳng định quyền sở hữu… nhưng dù mang chức năng gì, tất cả các loại ấn đều tôn thêm tính thẩm mỹ cho bức văn tự. Do đó rất cần phải tìm hiểu…

* TỪ BUỔI QUỐC SƠ…

Khi vào Thuận Hóa năm 1558, Nguyễn Hoàng với chức vụ trấn thủ, được vua Lê trao  “trấn tiết”(7), và chắc đã có cấp ấn  “Trấn thủ tướng quân”, nhưng ngày nay chúng ta chưa phát hiện được văn bản nào của Đoan Quận Công sử dụng ấn này. Tuy vậy, loại ấn “ 鎮 守 將 軍 之 印  (Trấn thủ Tướng quân chi ấn)” đã được phát hiện ở các thư ngoại giao của Thụy Quốc công Nguyễn Phúc Nguyên sử dụng từ năm 1601(8).

Đến năm 1570, do Nguyễn Bá Quýnh từ Quảng Nam được vua Lê triệu đến trấn thủ Nghệ An, Nguyễn Hoàng được kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa – Quảng Nam và được  “đeo ấn tổng trấn tướng quân”(9).

Ngày nay, nhiều văn bản thời Nguyễn Hoàng được phát hiện có đóng dấu “ 總 鎮 將 軍 之 印  (Tổng trấn Tướng quân chi ấn)“, chẳng hạn như văn bản của chúa gởi cho Lương Văn Chánh ở Phú Yên năm 1597(10), văn bản gởi cho Nhật Bản năm 1606…

Chiếc ấn “Tổng trấn Tướng quân” này là do vua Lê cấp, nên có giá trị như pháp lý công nhận chức vụ một cách chính danh, cho nên, dù các chúa Nguyễn sau này như Thụy Quốc công Nguyễn Phúc Nguyên, cho đến Hoằng Quốc công Nguyễn Phúc Thái khi viết thư ngoại giao với Nhật Bản dù có bạo gan tự xưng là “An Nam quốc quốc vương”, nhưng cũng chỉ đóng dấu “Tổng trấn Tướng quân chi ấn” chứ không có ấn nào khác !

Chính vậy, khi Lê Quý Đôn vào Thuận Hóa năm 1776, cũng cho biết:  “Họ Nguyễn trước kia đời đời làm công thần, tuy các đời vẫn khiến thần dân gọi là chúa, nhưng… Ấn thì dùng ấn “Tổng trấn Tướng quân”.”(11) .

Bức thư chúa Nguyễn Phúc Thái viết gởi Nhật Bản năm 1688, tự xưng “An Nam quốc quốc vương” nhưng chỉ được đóng dấu “Tổng trấn Tướng quân chi ấn”

         * GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH…

Cho đến đời Tộ Quốc công Nguyễn Phúc Chu nối ngôi,  “có tài lược văn võ… tự xưng là Đại Việt quốc vương… có ý dòm ngó Trung triều”(12). Để nuôi mộng lớn, ông đã cho người sang cầu phong với Đại Thanh, rồi năm 1709 cho đúc ấn “大越國阮主永鎮之寶(Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo)”. )”; và tiếp tục đúc nhiều ấn khác nữa…

Ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo”

1. Cổ sử cho biết: “Mùa đông, tháng 12, ngày Nhâm Dần, đúc Quốc bảo. Sai Lại bộ Đồng Tri là Qua Tuệ Thư coi việc chế tạo. (Ấn khắc chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo). Năm ấy đúc xong, về sau liệt thánh truyền nhau lấy làm quốc bảo. Đến khi Duệ tông Hiếu Định Hoàng đế (13) vào Nam, cũng đem ấn đấy đi theo. Duệ tông Hiếu Định Hoàng đế băng thì để lại cho Thế tổ Cao hoàng đế (14).Bấy giờ binh lửa hơn 20 năm, ấn ấy mất rồi lại tìm thấy nhiều lần. Mùa hạ năm Nhâm Dần, giặc đánh Sài Gòn, [Thế tổ] ra đảo Phú Quốc, điều khiển Ngô Công Quý mang ấn theo sau bị lạc. Đến khi Chu Văn Tiếp phá được giặc, rước vua hồi loan, Công Quý cũng từ Long Hồ đem ấn về hiến. Lại đến chiến dịch Ba Lai, quân giặc đuổi gấp, tòng thần(15) mang ấn lội sông chạy, ấn rơi xuống nước, rồi người lội sau vướng chân chạm phải, lại mò được, đem hiến ở hành tại. Lại khi vua lánh giặc, ra ngoài vụng đảo Thổ Châu, từ giá và cung quyến(16) đều đến lại ở đảo, vua Xiêm sai tướng là Thát Xỉ Đa đem binh thuyền đến đón vua mới vào nước họ. Trong lúc thảng thốt, tình trạng người Xiêm chưa lường được thế nào, vua mật sai tòng thần là Hựu đem ấn ấy vượt biển lên bờ giấu kín. Khi vua đến thành Vọng Các, thấy vua Xiêm đãi rất cung kính, không có ý gì khác, vua mới sai người về đảo Thổ Châu để đón từ giá và cung quyến, tên Hữu cũng mang ấn ấy đi theo. Khoảng năm Gia Long, vua từng dụ Hoàng thái tử, tức Thánh tổ Nhân Hoàng đế rằng: “Ấn báu này các đời truyền nhau, ngày xưa đã trải nhiều phen binh lửa, người chẳng chắc còn, mà ấn này vẫn cứ giữ trọn trước sau, chiếu văn và bổ dụng quan lại đều dùng ấn này, giữ tín trong nước, ai cũng hưởng ứng. Ấn này quan hệ với quốc gia không nhỏ, thực là ngôi báu trời cho vẫn có quỷ thần giúp đỡ, khiến cho ngọc bích của Triệu lại trở về(17) để truyền cho con cháu. Vả lại nước ta liệt thánh nối nhau, chồng chất sáng hòa, hơn 200 năm, nay nhờ yêu dấu thiêng liêng mà thống nhất cả nước, phúc chứa vốn đã lâu rồi. Kinh thi có câu “Nhà Chu nước dù cũ mà mệnh trời thì mới”, sự mở mang cơ nghiệp vốn bắt đầu tự Văn vương và Vũ vương, mà công gây dựng buổi đầu thực là tự Cổ Công và Vương Quý. Những vật cũ đời ấy để lại như cái đỉnh cái di, người Chu cũng đều xem là đồ báu. Huống là cái ấn Quốc bảo của tổ tiên ta để lại ư ? Từ nay về sau nên lấy ấn này làm vật báu truyền ngôi. Con cháu ta phải đời đời để lại cho nhau, đừng làm mất đi mà truyền đến ức muôn năm dài lâu mãi mãi”(18)…

Sử cho biết thêm:  “Mậu Tuất, năm thứ nhất (1778)… tuy chưa lên ngôi vương, nhưng Duệ Tông đã mất vì việc nước, quyền lớn đã thuộc về ngài, cho nên chép là năm thứ nhất để nối chính thống… các tướng tôn vua làm Đại nguyên soái, quyền coi việc nước (17 tuổi)… cai đội Lê Chử đem kim sách và quốc bảo của tiên triều đến dâng… Đầu là… Duệ Tông sai Chử giữ 4 tờ kim sách, một quả ấn vàng, ba quả ấn đồng đi theo. Đến sông Tra Giang gặp giặc, Chử sợ chạy, quăng cả sách và ấn xuống sông. Đến dây lại về chổ cũ mò được, đem dâng… Năm Canh Tý, lại năm thứ nhất (1780)… vua lên ngôi vương ở Sài Gòn… dùng ấn Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo (ấn này do Hiển tông Hiếu Minh hoàng đế chế, nay dùng làm của báu truyền ngôi), nhưng vẫn theo niên hiệu nhà Lê…”(19).

Có thể những đoạn sử trên chỉ là huyền thoại thêu dệt cho thấy báu vật thêm ly kỳ, nhưng dù sao, ta phải thấy rằng ấn truyền quốc chắc chắn là quý báu vô ngần…

Ấn hình vuông, chiều cao cả quai là 6,3cm, cạnh 10,84cm, dày 1,10cm; mặt trên của ấn khắc 2 dòng chữ Hán:  “Kế bát thập kim, lục hốt, tứ lạng, tứ tiền, tam phân (nghĩa là: vàng 8 tuổi, nặng 6 thoi, 4 lạng, 4 tiền, 3 phân – tức 64,43 lạng) “, bên phải khắc 11 chữ:  “Vĩnh Thịnh ngũ niên thập nhị nguyệt sơ lục nhật tạo (nghĩa là: làm ngày 6 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 5, tức năm 1709) “.

Mặt ấn đúc nổi 9 chữ triện như đã nói trên. Một điều đáng bàn là, hai chữ triện số 1 (góc trên phải đã được đọc là “ 大(đại)”) và chữ triện số 5 (ở chính giữa đã được đọc là “ 主(chúa)”), thật sự phải đọc như thế nào ? Nếu theo tự dạng thông thường thì 2 chữ đã dẫn không thể được đọc là “đại” và “chúa” được ! Tra các loại Từ điển Thư pháp (20), ta không hề thấy hai chữ này được viết theo kiểu ở chiếc ấn nói trên. Thế nhưng Quốc sử quán triều Nguyễn đã viết là “Ấn khắc chữ Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo” !, nên ta cũng phải đọc như vậy !

Chính vì những trường hợ tương tự như thế, khi nghiên cứu về ấn chương, Lê Quý Đôn cũng đã cho biết:  “Đời gần đây, chữ triện khắc ở mặt ấn không theo phép tắc gì hết. Như ấn của Tam Sảnh, nét chữ triện đều cong lệch trái ngược…”(21).

Trở lại đoạn sử trên, ta thấy vua Gia Long nói rằng, “chiếu văn và bổ dụng quan lại đều dùng ấn này”, có thể thời Nguyễn vương Phúc Ánh đã dùng ấn này trên văn bản của mình, nhưng còn các thời chúa trước đó thì không dùng ấn này để “chiếu văn và bổ dụng quan lại”, vì thực tế văn bản làng xã ở Thừa Thiên Huế thời chúa Nguyễn Phúc Thụ năm 1728 (niên hiệu Bảo Thái cửu niên)(22) và tôi đã thấy đến cả thời chúa Nguyễn Phúc Khoát năm 1741 (Vĩnh Hựu thất niên) vẫn còn dùng ấn “Tổng trấn” ! Riêng chúng ta mới thấy chiếc ấn ly kỳ kể trên chỉ được khắc 2 bản duy nhất ở bia chùa Thiên Mụ dựng năm 1715: một dấu trên trán bia và một dấu cuối bài bi ký !

Ấn “Đại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo” được khắc trên bia chùa Thiên Mụ năm 1715

2. Ấn  “取信天下文武權行( Thủ tín thiên hạ văn vũ quyền hành)”, là ấn long tỷ nhỏ được chúa Nguyễn Phúc Chu sử dụng từ tháng 9 năm 1710 (23) đóng ở góc trên bên phải văn bản ban ra xã hội.

Ấn “Thủ tín thiên hạ văn võ quyền hành”

3. Ấn  “與天同壽 (Dữ thiên đồng thọ)”, là ấn chính trên dòng ghi niên đại của  “Tứ công thần bi” của Trần Đình Ân năm 1703. Vì chỉ xuất hiện một lần duy nhất trên tấm bia này, còn các bức khác đều không có, nên có thể đây là một trong những chiếc ấn đầu tiên dùng trên ngự bút văn thơ của Minh Vương.

4. Ấn  “天縱道人  (Thiên Túng đạo nhân)”(24), là ấn tên cá nhân, xuất hiện trên  “Tứ công thần bi” của Trần Đình Ân.

Ấn vuông ghi 4 chữ “Thiên Túng đạo nhân” dưới hàng chữ “Quốc chủ Thiên Túng đạo nhân ngự sắc tứ” trên tấm bia ghi công đức của Trần Đình Ân

5. Ấn “ 南 天一 柱(Nam thiên nhất trụ)”: chỉ xuất hiện 01 lần trên 2 câu đối ở chùa Quốc Ân.

6. Ấn  “業廣維勤  (Nghiệp quảng duy cần)” (chữ Kinh thư, nghĩa là muốn mở rộng cơ nghiệp thì phải siêng năng): là ấn kiềm hình bầu dục, được Minh Vương sử dụng từ năm 1714 bên phải (so với người xem) bức “靈鷲高峰(Linh Thứu cao phong)” (ở chùa Thiên Mụ) hoặc bức “忠義之則(Trung nghĩa chi tắc)” (ở Quan Công từ).

Ấn “Nghiệp quảng duy cần”

7. Ấn  “協一主人  (Hiệp nhất chủ nhân)”, ấn kiềm tròn được đóng vào những bức  “Linh Thứu cao phong, Trung nghĩa chi tắc” năm 1714, ở bia chùa Thiên Mụ năm 1715, câu đối ở chùa Quốc Ân, trên khánh đá năm 1724, “Sắc tứ Quang Đức tự”,  “Thế Tôn bảo điện”, ngự đề tại chùa Khánh Long năm 1753, và cả trên văn bản bằng giấy.

Ấn “Hiệp nhất chủ nhân” (trên), và “Đại khối giả ngã dĩ văn chương” (dưới).

8. Ấn  “大塊假我已文章  (Đại khối giả ngã dĩ văn chương)” (câu trong bài  “Xuân dạ yến đào viên”, nghĩa là trời giúp cho ta về văn chương): ấn vuông được đóng vào những bức  “Linh Thứu cao phong, Trung nghĩa chi tắc”năm 1714, và bia chùa Thiên Mụ năm 1715,  “Sắc tứ Quang Đức tự”,  “Thế Tôn bảo điện”, bức ngự đề tại chùa Khánh Long, và cả trên văn bản bằng giấy.

9. Ấn “福週阮王之印  (Phúc Chu Nguyễn vương chi ấn)“: chỉ xuất hiện 01 lần ở bức  “Lai Viễn kiều” năm 1719.

Ấn “Phúc Chu Nguyễn vương chi ấn” (trên) và “Kỳ mệnh duy thiên” (dưới), ngay dưới ký tên “Quốc chủ Thiên Túng đạo nhân đề” ở bức “Lai Viễn kiều”

10.Ấn  “ 其 命 惟 天  (Kỳ mệnh duy thiên)”: chỉ xuất hiện 01 lần ở bức  “Lai Viễn kiều”.

11. Ấn “ 國 主 御 筆 之 寶  (Quốc chủ ngự bút chi bảo)“:

Trên bước đường tìm hiểu các bức ngự đề, tôi đã thấy ấn này xuất hiện 5 lần, 3 lần trên gỗ và 2 lần trên đá, theo thứ tự thời gian:

- Năm 1724: xuất hiện trên cái khánh thời Minh Vương có niên đại  “Bảo Thái ngũ niên” được tìm thấy ở làng La Chữ. Và cái khánh này đã được R. Orband công bố năm 1915, trong đó ấn triện được vị “Son Exellence le Ministre de l’Instruction Publique” tức Thượng thư Bộ Học thời đó là ông Cao Xuân Dục đã đọc là  “Quốc chủ ngự bút chi bửu“(25).

- Năm 1747: xuất hiện 3 lần trên 3 bức ngự đề bằng gỗ của Võ Vương là các bức  “Sắc tứ Quang Đức tự”,  “Thế tôn bảo điện” và  “Sắc tứ Báo Quốc tự”.

- Năm 1748: xuất hiện bia  “Sắc tứ… Liễu Quán hòa thượng” thời Võ Vương, niên đại  “Cảnh Hưng cửu niên”. Nhiều độc giả thắc mắc tại sao ấn lại xuất hiện trên tấm bia do hòa thượng Thiện Kế viết (?), theo tôi là do Võ Vương sắc tứ hiệu của Tổ sư Liễu Quán và chỉ thị cho Hòa thượng Thiện Kế soạn văn bia nên cũng có thể xem là ngự thư của Võ Vương và được đóng dấu.

Ở bức hoành “Lai Viễn kiều” năm 1719 chưa xuất hiện ấn này, mà mãi đến bức khánh đá năm 1724 mới có, như vậy ấn “Quốc chủ ngự bút chi bảo” đã được làm trong khoảng từ năm 1720 đến 1724.

Ấn “Quốc chủ ngự bút chi bảo” trên các bức ngự đề bằng gỗ và trên bia Liễu Quán.

*CHÚ THÍCH:

(1) Xem: Nguyễn Anh Huy. “Theo dấu các chúa Nguyễn qua những bức ngự đề”.  Liễu Quán. Số 2. 2014.

(2) Xem: Võ Vinh Quang. “Lược khảo văn bản “An Nam quốc thư””.  Nghiên cứu và Phát triển. Số 9. 2013.

(3) Nội dung chi tiết “Ngự sắc” này, có thể xem: Quốc sử quán triều Nguyễn (Tổ phiên dịch Viện Sử học dịch).  Đại Nam Thực Lục. Tập 1. Nhà xuất bản Giáo dục. 2004. Trang 116-117. Hoặc trong  Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, mục “Trần Đình Ân”.

(4) Xem: R.Orband. “Le khanh de La-Chu”.  Bulletin Des Amis du Vieux Hué. No 4, 1915. Và xem thêm: Trần Đình Sơn. “Khánh quý quốc tự Linh Mụ”.  Liễu Quán. Số 2. 2014. Bài viết của Orband cho biết cái khánh được tìm thấy gần chùa La Chử, nhưng nhà nghiên cứu Trần Đình Sơn lại gán ghép cho cái khánh này là của chùa Thiên Mụ, và cách giải thích còn nhiều khiên cưỡng, chúng tôi sẽ góp ý vào một dịp khác.

(5) Xem:  Liễu Quán. Số 2 (Chuyên đề Quốc tự Thiên Mụ). 2014.

(6) Xem:  Liễu Quán. Số 1 (Chuyên đề Tổ sư Liễu Quán). 2014. Hòa thượng Thiện Kế, người soạn văn bia Tháp tổ Liễu Quán năm 1748 cũng chính là Đạo nhân Tử Vân Giai đã viết tấm bia ở  “Sắc tứ Sơn Tùng tự” tại Quảng Điền năm 1755, vì trên cả 2 tấm bia này đều có đóng khuôn dấu có 4 chữ triện: “ 善 繼 之 印  (Thiện Kế chi ấn)“; ngoài ra, còn có một ấn kiềm khác có 2 chữ “ 道 階  (Đạo giai)” cũng đều xuất hiện trên cả 2 tấm bia này; và cả 2 đều ký là người Ôn Lăng, Trung Quốc.

(7) Tức cờ tiết của vua giao cho làm huy hiệu của quyền trấn thủ. Xem: Quốc sử quán triều Nguyễn.  Đại Nam thực lục. Tập 1. Nhà xuất bản Giáo dục. 2002. Trang 28.

(8) Xem: Võ Vinh Quang.  Bài đã dẫn.

(9) Quốc sử quán triều Nguyễn.  Sách đã dẫn. Trang 29.

(10) Xem: Trần Viết Ngạc. “Về một công văn của Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng năm 1597″.  Nghiên Cứu Huế. Tập 1. 1999. Hoặc xem thêm: Nguyễn Anh Huy. “Về tác giả bức thư gởi Nhật Bản năm 1601”.  Xưa Và Nay. Số 445. Tháng 3 năm 2014.

(11) Lê Quý Đôn.  Phủ biên tạp lục. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Hà Nội. 1977. Trang 67.

(12) Chữ của Lê Quý Đôn nói về Minh vương Nguyễn Phúc Chu.

(13) Tức Định vương Nguyễn Phúc Thuần: 1765 – 1775.

(14) Tức là Nguyễn vương Phúc Ánh, hoàng đế Gia Long: 1780 – 1819.

(15) Người đi theo vua.

(16) Mẹ và vợ con vua.

(17) Triệu bích: tích Lạn Tương Như nước Triệu đem ngọc bích sang Tần để đổi lấy 5 thành. Tần không đổi thành, Tương Như mà đem ngọc bích về.

(18) Quốc sử quán triều Nguyễn.  Sách đã dẫn. Trang 124-125.

(19) Quốc sử quán triều Nguyễn. Sách đã dẫn. Trang 205-208.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.
Đồng chí Nguyễn Phi Long: Các đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng là tấm gương sáng cho đảng viên, nhà khoa học trẻ
Sáng ngày 24/9, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã trang trọng tổ chức Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng đợt 02/9/2026. Đồng chí Nguyễn Phi Long, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương đã đến dự và phát biểu chúc mừng 111 đồng chí được trao tặng Huy hiệu Đảng.
Tư vấn, phản biện Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân, hiện đại hóa hệ thống y tế Tp. Bắc Ninh
Ngày 23/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật TP Bắc Ninh tổ chức Hội thảo tư vấn, phản biện: “Đề án tăng cường hợp tác công - tư và phát triển y tế tư nhân hiện đại hóa hệ thống y tế thành phố Bắc Ninh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn 2045”.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 9/2026: Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ trọng tâm cuối năm 2026
Chiều 23/9, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tháng 9/2026, nhằm đánh giá kết quả công tác 9 tháng đầu năm, xác định nhiệm vụ trọng tâm những tháng cuối năm; đồng thời triển khai một số nội dung quan trọng về công tác xây dựng Đảng, tổ chức cán bộ và thực hiện các nhiệm vụ sau Đại hội IX.
GS.VS Châu Văn Minh: Phát huy nguồn lực trí thức, đồng hành cùng Hà Tĩnh giải quyết những bài toán phát triển
Chiều 21/9, GS.VS Châu Văn Minh, Phó Chủ tịch không chuyên trách Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã thăm, làm việc với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hà Tĩnh (Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao tặng kỷ vật "Hồ sơ chứng tích chiến tranh" 2026 tại Hoa Kỳ
Trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 và thực hiện các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, chiều 21/9 (theo giờ địa phương), tại thành phố New York, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp những người bạn Hoa Kỳ.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến New York tham dự Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81
Việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham dự và có bài phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam và Liên hợp quốc đang cùng nhau hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ.
Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững Việt Nam - Hoa Kỳ
Chuyến công tác và hoạt động song phương tại Hoa Kỳ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ góp phần triển khai các nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và Hoa Kỳ, đồng thời tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện phát triển ổn định, thực chất, hiệu quả và bền vững.
Lào Cai: Nâng cao kiến thức, năng lực triển khai truy xuất nguồn gốc cho doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất
Trong khuôn khổ chương trình do Sở KH&CN tỉnh Lào Cai tổ chức, với sự phối hợp của Hội Mã số Mã vạch Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã và các đơn vị liên quan, trong hai ngày 16-17/9 tại phường Yên Bái và phường Lào Cai, các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất, kinh doanh đã cùng trao đổi những vấn đề cụ thể xoay quanh sản phẩm OCOP, MSMV, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu và chuyển đổi số.
Hải Phòng: Giải pháp ứng dụng công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh
Sáng ngày 18/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp cùng Trường Đại học Hải Phòng, Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Hưng Yên, Viện Kỹ thuật Xây dựng, Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia tổ chức Hội thảo khoa học: “Chuyển đổi số và công nghệ tiên tiến trong công nghiệp 4.0 và đô thị thông minh”.
Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững tỉnh Đắk Lắk
Công nghệ sinh học (CNSH) đang mở ra nhiều cơ hội mới cho các địa phương có thế mạnh về nông nghiệp, tài nguyên sinh học và đa dạng hệ sinh thái. Đối với Đắk Lắk, phát huy lợi thế về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nguồn nguyên liệu phong phú gắn với ứng dụng KHCN có ý nghĩa thiết thực. Trong đó, CNSH có thể tạo ra những giá trị mới từ giống, quy trình sản xuất, chế biến đến xử lý phụ phẩm...
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa tổ chức thành công Đại hội đại biểu lần thứ I
Sáng 18/9, tại Khánh Hòa, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Khánh Hòa tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam Nguyễn Quyết Chiến tham dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội.