Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 20/04/2006 00:32 (GMT+7)

Văn tự Thái trên đường phát triển

Trước sau, một trong những nguyện vọng tha thiết của đồng bào dân tộc thiểu số này là được học và sử dụng văn tự của mìnhtrong sinh hoạt cộng đồng. Để đáp ứng yêu cầu thực tế này, từ những năm 1953-1969 Bác Hồ đã cùng Đảng và Nhà nước xây dựng cho đồng bào bộ chữ thống nhất - cải tiến rồi đưa vào trường để dạy và học. Ngày 27/1/1961thay mặt Hội đồng Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký Nghị định số 206/CP khuyến khích vùng người Thái sử dụng chữ Thái. Để tiện trong các trình bày ở bài viết này tôi gọi tắt bằng tên: chữ Thái thống nhất - cải tiến 1961.

Đảng CSVN trước sau như một vẫn nhất quán một đường lối chủ trương. Ngày 16/7/1998, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã ban hành. Trong quy định về nhiệm vụ cụ thể, Nghị quyết ghi rõ: “Bảo tồn và phát triển ngôn ngữ, chữ viết phổ thông, khuyến khích thế hệ trẻ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số học tập, hiểu biết và sử dụng thành thạo tiếng nói, chữ viết của tộc mình”.

Nhà nước đã có hiến pháp (1992) hiện hành, trong điều V ghi: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, gìn giữ bản sắc dân tộc mình”.

Thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân tộc Thái, thực hiện theo nghị quyết của Đảng và pháp luật Nhà nước, bắt đầu từ năm 2001, đến nay, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu Văn hoá thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội có Chương trình Thái học Việt Nam (CTTHVN) đã thực thi hai đề tài nghiên cứu khoa học về văn tự Thái và đã đạt kết quả khả quan.

Đề tài khoa học cơ bản cấp trường Đại học Quốc gia Hà Nội mã số CB.01.13 lấy tên: “Nghiên cứu hoàn thiện bộ chữ viết của dân tộc Thái ở ViệtNam”.

GS. Đoàn Thiện Thuật, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu Văn hoá làm Chủ nhiệm đề tài. CTTHVN thực thi từ đầu năm 2001 đến ngày 28/3/2002hội nghị nghiệm thu đánh giá xuất sắc đạt chất lượng ở mức cao nhất. Qua bản báo cáo chính của GS. Đoàn Thiện Thuật, ta biết được những thành tựu mà đề tài đã đạt được.

Thái là dân tộc thiểu số sớm có chữ viết theo hệ Sanskrit như bộ chữ Thái Đen dòng Tạo Xuông - Tạo Ngần ở đất Mường Lò (huyện Văn Trấn thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái) từ thế kỷ XI. Song do trước đây ít tiếp xúc giữa các vùng nên đến nay người Thái đã bảo tồn tới 8 bộ ký tự khác nhau.

Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chắc chắn chữ Thái là phương tiện duy nhất để ghi chép các thông tin kinh tế, xã hội, văn hoá trong dân tộc Thái cũng như toàn vùng họ cư trú.

Trong thời kỳ Pháp thuộc, chữ Thái tuy không được dạy ở trường sở nhưng lại dùng một cách rộng rãi trong sinh hoạt hàng ngày cũng như giấy tờ hành chính ở cấp châu mường (tương đương với huyện ngày nay).

Trước 1945, từ nhà tù Sơn La, các chiến sĩ cách mạng đã học và dùng tiếng, chữ Thái để tuyên truyền vận động quần chúng bên ngoài đứng dậy đánh đổ đế quốc phong kiến. Tại Sơn La, Hội Người Thái cứu quốcdưới sự lãnh đạo bí mật của Chi bộ Đảng Cộng sản trong tù đã xuất bản tờ báo chữ Thái mang tên Lắc mương(cột trụ đất nước) để kêu gọi nhân dân các dân tộc đứng lên diệt phát xít Nhật, giành chính quyền.

Trong thời kỳ kháng chiến chống xâm lược Pháp 1946-1954, chữ Thái cổ được tiếp tục dùng như một phương tiện vận động khối đại đoàn kết dân tộc, thành lực lượng đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Phía địch, năm 1949 tạm chiếm Lai Châu, Sơn La đã thay thế chữ Thái cổ bằng bộ chữ theo hệ La tinh, lấy chữ Pháp làm nền, dùng tiếng Thái Mường Lay làm chuẩn, vẫn giữ cấu trúc phụ âm đôi - tổ thấp, tổ cao như chữ Thái.

Năm 1953-1957 theo sáng kiến của Bác Hồ, Đảng và Nhà nước đã tổ chức để tập hợp các bộ chữ Thái cổ xây dựng thành Chữ Thái thống nhất. Năm 1958-1969 chữ Thái thống nhấtđược nghiên cứu khoa học hơn, hoàn chỉnh hơn và gọi là Chữ Thái cải tiến.

Chữ Thái thống nhất - cải tiến 1961, tuy đạt tiêu chí khoa học ngôn ngữ văn tự, nhưng vướng mắc nhiều ở khâu sử dụng, nhất là khi đưa vào hệ thống giáo dục quốc gia. Chính phủ đã chỉ thị tạm hoãn việc học Chữ Thái cải tiếnđể tiếp tục nghiên cứu sao cho thích hợp hơn. Từ đó đến nay đã 35 năm tạm hoãn, dân tộc Thái sống trong nỗi khao khát muốn được học và dùng chữ của mình như trước đây.

Từ thực trạng chữ Thái hiện nay, đề tài khoa học cơ bản của Đại học Quốc gia Hà Nội đã nghiên cứu kỹ để lập bản so sánh chỗ giống nhau, khác nhau của 8 bộ chữ Thái cổ với chữ Thái thống nhất - cải tiến 1961 và rút ra những nhận xét khoa học.

* Bộ chữ Thái thống nhất - cải tiến 1961 đã có đầy đủ, thậm chí thừa ký tự phụ âm, nguyên âm và dấu thanh để có thể ghi tất cả các tiếng địa phương các vùng thổ ngữ Thái.

* Thực thi đề tài khoa học cơ bản này, chúng tôi cũng đã thu thập được ý kiến của 7 tỉnh có người Thái cư trú. Rõ ràng bất cứ người Thái ở nơi nào cũng đều có chung một nguyện vọng muốn được học chữ Thái. Trước mắt có lẽ chưa có cách nào tốt hơn, được bắt đầu từ bộ chữ Thái thống nhất - cải tiến 1961 của vùng Tây Bắc cũ. Bởi vì suy cho cùng trên lĩnh vực phát triển văn hoá này, người Thái mới bước tới đó để rồi từ đó đi những bước tiếp theo. Nếu quay lại với nguyên dạng 8 bộ chữ Thái cổ là không thừa kế được những thành quả mới của nghiên cứu.

Ngày 26-4-2002tại Hội nghị Thái học Việt Nam lần thứ III. Chủ nhiệm CTTHVN đã công bố kết quả nghiệm thu đề tài khoa học cơ bản cấp Đại học Quốc gia Hà Nội về nghiên cứu và hoàn thiện bộ chữ viết của dân tộc Thái ở Việt Nam và lấy tên là chữ Thái Việt Nam thống nhất (VNTN).

Sau hội nghị đó, tỉnh Lai Châu cũ (nay gồm cả Điện Biên), thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái) và huyện Mai Châu (Hoà Bình) đã đăng ký học chữ Thái. Riêng huyện Mai Châu BCH Đảng bộ đã có 3 nghị quyết của 3 nhiệm kỳ (20, 21, 22) và ngày 25/1/2003 HĐND huyện cũng đã ra nghị quyết tổ chức lớp học chữ Thái cho cán bộ và nhân dân. Nhận được tin có bộ chữ Thái VNTN, cấp uỷ và chính quyền địa phương cử ông Hà Anh Đức, Phó Chủ tịch huyện, người thông thạo chữ Thái cổ Mai Châu đến xin tài liệu dạy và học ở CTTHVN tại Hà Nội. Do có kinh nghiệm của 51 năm (1953-2004) xây dựng chữ Thái, Ban Chủ nhiệm CTTHVN đã soạn thảo 2 tập sách học vận và tập đọc củng cố kiến thức sau học vần, đáp ứng đòi hỏi cấp thiết của huyện Mai Châu.

Trung tâm Nghiên cứu và Giao lưu Văn hoá thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội vào thời điểm này do GS. Vũ Minh Giảng làm Giám đốc đã lập thành đề tài nghiên cứu khoa học.

Ứng dụng thực tiễn bộ chữ Thái ViệtNamthống nhất

Đề tài thực thi bằng việc hỗ trợ có hiệu quả, cấp uỷ và chính quyền huyện Mai Châu mở lớp dạy và học, coi đó như một thí điểm của đề tài ứng dụng thực tiễn bộ chữ Thái VNTN của Đại học Quốc gia Hà Nội.

Ngày 2/5/2003 UBND huyện Mai Châu ra quyết định số 286/QĐ/UB thành lập ban chỉ đạo lớp học chữ Thái VNTN do ông Hà Anh Đức – P. Chủ tịch làm Trưởng ban, đồng thời làm giảng viên. Ông Vì Duy Thông, Uỷ viên thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Huyện uỷ được mời làm phó ban, cùng 4 uỷ viên khác. Lớp học thí điểm đã thu hút tới 94 học viên trong đối tượng cán bộ cốt cán của huyện và một số giáo viên các trường phổ thông ở xã. Ngày 1/6/2003lớp khai giảng và ngày 15/10/2003lớp làm lễ bế mạc vui mừng với kết quả tốt đẹp. Cán bộ và nhân dân huyện Mai Châu tưng bừng phấn khởi và tin tưởng. Qua lớp học thí điểm này đề tài khoa học ứng dụng thực tiễn của Đại học Quốc gia Hà Nội đã rút ra được những bài học sau:

Buổi đầu này dân tộc Thái chỉ cần sử dụng một bộ ký tự thống nhất để ghi thổ ngữ. Có lẽ còn lâu mới có thể chọn chữ chuẩn ghi một tiếng chuẩn như thời xây dựng bộ chữ Thái thống nhất - cải tiến 1961. Nhờ thực thi đúng nguyên tắc này mà đề tài khoa học ứng dụng thực tiễn đạt kết quả mỹ mãn ở huyện Mai Châu.

Biết chữ Thái cổ bất cứ ở bộ ký tự nào đều có thể chuyển sang đọc chữ VNTN thuận lợi và ngược lại. Điều này làm cho người biết chữ có thể thực hiện trong vòng một tiếng đồng hồ, thậm chí vài phút làm quen đối với những người học thực sự có kiến thức Thái học. Hoặc cùng lắm, với những người mới học thông thạo cũng chỉ có thể tìm hiểu, làm quen trong 5 – 7 ngày. Gặt hái được kết quả này từ lớp thí điểm thật lý thú. Một là, giúp những người biết chữ Thái cổ thoải mái khi học chữ Thái VNTN bằng cách tự tìm hiểu để nắm được. Hai là, vô hình trung người thông thạo chữ Thái cổ đã trở thành người cung cấp giảng viên cho chữ Thái VNTN như trường hợp ông Hà Anh Đức.

Học chữ Thái tuy nói là tự nguyện và khuyến khích nhưng nhất thiết phải được cấp uỷ Đảng và Chính quyền địa phương tổ chức thực hiện. Việc tổ chức thực hiện học chữ Thái VNTN theo quy mô cấp huyện đã thành công chính là bài học rút ra từ Mai Châu. Tương tự như thế có thể áp dụng ở các địa bàn như huyện Văn Trấn và thị xã Nghĩa Lộ (Yên Bái), những huyện thuộc miền tây 2 tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An. Ngược lại, đối với Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, vì người Thái cư trú ở khắp các huyện cho nên việc tổ chức học và dùng chữ Thái VNTN có thể và cần thiết đặt ở quy mô cấp tỉnh sẽ thích hợp hơn.

Sự thành công của lớp học chữ Thái VNTN ở Mai Châu cũng cho thấy việc tổ chức thực hiện được bắt đầu từ các nghị quyết của huyện Đảng bộ, tiếp đó là nghị quyết của HĐND huyện rồi đến quyết định thành lập Ban chỉ đạo lớp học của UBND huyện. Và như vậy mọi sự vận hành của lớp học chữ Thái VNTN đều được tự do trong khuôn khổ hợp pháp thấu tình đạt lý.

Trước mắt, nên thu hút đối tượng cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trong diện xoá mù chữ và bổ túc văn hoá, chưa vội đưa ngay vào hệ thống trường sở như thời sử dụng chữ Thái thống nhất - cải tiến 1961. Đương nhiên, trong nay mai cũng có thể phối hợp với Trung tâm Giáo dục Dân tộc - Bộ Giáo dục và Đào tạo tiến tới thí điểm dạy học chữ Thái VNTN ở các lớp trong bậc tiểu học.

Phải chuẩn bị tốt việc biên soạn tài liệu giảng dạy và học tập cũng như đào tạo giảng viên và giáo viên.

Các tài liệu dạy và học do thổ ngữ của người trực tiếp biên soạn được giảng viên và giáo viên soạn lại theo tiếng địa phương của mình như ông Hà Anh Đức đã thực hiện tại lớp học chữ Thái VNTN ở huyện Mai Châu.

Ấn phẩm nên biết

* “Văn hoá và lịch sử các dân tộc trong nhóm ngôn ngữ Thái Việt Nam” của Chương trình Thái học Việt Nam, do NXB Văn hoá - thông tin ấn hành tại Hà Nội, năm 2002. Tác phẩm có quy mô 904 trang in trên khổ giấy 20x29 cm, bao gồm 115 báo cáo tham luận về nghiên cứu Thái.

* “Danh sách tổ tiên họ Lò Cầm ở Mai Sơn – Sơn La”- ấn phẩm của chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam thuộc Trung tâm Nghiên cứu VN và Giao lưu Văn hoá tại Đại học Quốc gia Hà Nội, do Cầm Trọng và Kashinaga Masao sưu tầm, nghiên cứu và biên dịch, NXB Thế giới ấn hành, H. năm 2003. Tác phẩm có quy mô 210trang, in trên khổ giấy 15x23 cm, gồm phần nguyên bản chữ Thái cổ, phần dịch ra quốc ngữ và phần nghiên cứu văn bản.

Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 66, 5/2004

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.