Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 04/09/2013 16:56 (GMT+7)

Ứng dụng từ trường nhân tạo để kích thích sinh trưởng và phát triển một số giống cây trồng trong giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm

Xuất phát từ thực tế nêu trên, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã tiến hành triển khai nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng từ trường nhân tạo để kích thích sinh trưởng và phát triển một số giống cây trồng trong giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm”.

Mục tiêu của đề tài là nhằm ứng dụng từ trường nhân tạo để kích thích sinh trưởng phát triển, giảm thời gian cây giống trong giai đoạn nuôi cấy mô và vườn ươm, nâng cao năng suất và hiệu quả vườn ươm; Xác định biện pháp kỹ thuật sử dụng có hiệu quả từ trường nhân tạo trong sản xuất giống ở giai đoạn nuôi cấy mô và vườn ươm đối với một số giống cây trồng có lợi thế ở tỉnh Phú Thọ; Xây dựng mô hình thực nghiệm ứng dụng kết quả nghiên cứu và hoàn thiện biện pháp kỹ thuật, đào tạo cho cán bộ làm chủ được kỹ thuật sử dụng từ trường nhân tạo trong nhân giống ở giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây chè (giống chè Phúc Vân Tiên), cây keo lai giâm hom giống BV10, cây bạch đàn giống PN2, cây phong lan nuôi cấy mô với giống lan Vũ Nữ.

Trên cơ sở yêu cầu của thí nghiệm là thiết bị phải tạo ra được từ trường có cường độ khác nhau, đề tài đã chọn thiết bị tạo ra từ trường năng lượng cao dùng trong nuôi cấy mô và thiết bị hoạt hoá nước bằng từ trường do Viện Vật lý, Viện KH & CN Việt Nam sản xuất, các thiết bị này đáp ứng được yêu cầu thí nghiệm. Sau 03 năm nghiên cứu, kết quả đề tài cho thấy sử dụng từ trường nhân tạo có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây trong giai đoạn nuôi cấy mô và giai đoạn vườn ươm. Cụ thể : xử lý từ trường các giai đoạn vào mẫu, nhân chồi và ra rễ ở mức cường độ từ trường 100mT và thời gian xử lý là 10 phút là tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của cây chè và cây hoa lan; cây bạch đàn tốt nhất là ở mức cường độ từ trường 50mT với thời gian xử lý là 60 giây. Xử lý từ trường ở mức cường độ từ trường là 150mT và thời gian xử lý là 30 phút cho hom chè và hom keo sinh trưởng tốt; đối với hom bạch đàn sinh trưởng tốt khi đã xử lý từ trường với cường độ 100mT trong thời gian 10 phút.

Bên cạnh đó, đề tài đã xây dựng mô hình tác động của xử lý từ trường trong giai đoạn nuôi cấy mô và vườn ươm. Cụ thể :

Mô hình tác động của cường độ từ trường và thời gian xử lý từ trong giai đoạn nuôi cấy mô : từ kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của cường độ từ trường đến các giai đoạn trong nuôi cấy mô cây chè, cây hoa lan và cây bạch đàn cho thấy tác động từ trường ở mức 100mT trong thời gian 10 phút là tốt nhất cho cây chè và cây hoa lan; ở mức 50mT trong thời gian 60 giây là tốt nhất cho cây bạch đàn. Do vậy, đề tài đã tiến hành xây dựng mô hình tác động cường độ từ trường trong các giai đoạn nuôi cấy mô ở mức 100mT trong thời gian 10 phút cho cây chè, cây hoa lan và ở mức độ 50mT trong thời gian 60 giây cho cây bạch đàn; số lượng mỗi loại 10.000 cây. Ở mức cường độ từ trường là 100mT cây chè có chiều cao chồi trung bình đạt 2,98 cm, số lá trung bình/cây đạt 6,71 lá, hệ số nhân chồi đạt 3,49 lần. Tương tự ở mức cường độ từ trường 50mT cây bạch đàn có chiều cao chồi trung bình đạt 3,03 cm, số lá trung bình/cây đạt 8,67 lá, hệ số nhân chồi đạt 4,48 lần. Ở mức cường độ từ trường là 100mT cây chè có tỷ lệ cây ra rễ trung bình đạt 80,74%, số lượng rễ trung bình/cây đạt 4,23 rễ và cây hoa lan có tỷ lệ cây ra rễ trung bình đạt 77,86%, số lượng rễ trung bình/cây đạt 4,17 rễ…

Mô hình ứng dụng nước và phân bón đã được từ hoá để sản xuất cây giống chè, keo lai và bạch đàn trong vườn ươm : mỗi loại 10.000 cây; hom sau khi cắm được 15-20 ngày bắt đầu mới bật mầm và rễ, do đó ở giai đoạn này chỉ cần tưới nước cho cây; sau khi cây ổn định sinh trưởng, phân được xử lý từ và bón tưới cho cây. Kết quả là ở thời gian từ hoá nước là 5 phút và phân bón là 10 phút cây chè có chiều cao cây trung bình đạt 31,62 cm, đường kính gốc trung bình đạt 0,32 cm, số lá trung bình/cây đạt 13,15 lá. Với cây keo chiều cao cây trung bình đạt 31,48 cm, đường kính gốc trung bình đạt 0,33 cm, số lá trung bình/cây đạt 9,52 lá. Với cây bạch đàn : chiều cao cây trung bình đạt 30,71 cm, đường kính gốc trung bình đạt 0,33 cm, số lá trung bình/cây đạt 9,36 lá. Thời gian từ hoá nước là 5 phút và phân bón là 10 phút tỷ lệ xuất vườn của cây chè đạt 93,54%, cây keo đạt 85,61%, cây bạch đàn 86,12%. Chất lượng của 03 loại cây đều tốt, sinh trưởng khoẻ và không có sâu bệnh hại.

Việc nghiên cứu thực hiện thành công đề tài đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và khoa học cao; góp phần giảm thời gian cây trồng trong giai đoạn nuôi cấy mô và vườn ươm, nâng cao năng suất, hiệu quả xuất vườn để có thể sản xuất giống cây trồng có chất lượng tốt cung cấp cho các tỉnh phía Bắc và cả nước.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.