Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 30/10/2008 21:29 (GMT+7)

Trí, ngôn và hạnh của người con gái qua một bài ca dao hài hước

1. Nội dung một ngôn bản không phải bao giờ cũng được phản ánh qua nghĩa tường minh mà còn được thể hiện qua sự tích hợp các ý niệm của các nhân vật về một vấn đề cụ thể nào đó. Bài ca dao “ Cưới nàng, anh toan dẫn voi,/… Bao nhiêu củ tím, củ hà,/ Để cho con lợn, con gà nó ăn…” được dẫn trong Ngữ văn 10, Tập I (nhà xuất bản Giáo dục 2006) là một trường hợp như vậy. Đây không những là “lời đối đáp vui đùa của nam nữ thường thấy trong ca dao”, là tiếng cười giải trí thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời của người bình dân mà còn là ngôn bản bộc lộ khả năng tri nhận tuyệt vời, thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ điêu luyện và sự trải nghiệm phong phú của người con gái Việt Nam.

Tri nhận (cognition) là tất cả những quá trình tiếp nhận, cải biến và lưu giữ dữ liệu trong trí nhớ của con người dưới dạng những biểu hiện tinh thần (mental representation). Nó cũng được coi như là cách xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác. Hoạt động tri nhận (cognitive activity) là hoạt động tư duy dẫn đến việc thông hiểu một nội dung nào đó. “Kết quả của hoạt động tri nhận là tạo ra một hệ thống những ý niệm giúp con người hiểu biết, giả định, suy nghĩ và/ hoặc tưởng tượng về các đối tượng của thế giới hiện thực và các thế giới khả dĩ” [1, 3].

Ý niệm (concept) là kết quả của quá trình tri nhận các nhân tố như truyền thống dân tộc, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc… và hệ thống giá trị để tạo ra các biểu hiện tinh thần. Nó là “các nghĩa trừu tượng được từ và các đơn vị ngôn ngữ khác thể hiện” [4, 74]. Vai trò chủ yếu của ý niệm trong tư duy là phạm trù hoá, tức nhóm họp những đối tượng có sự giống nhau nhất định nào đó thành những lớp tương ứng. Nó quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới. Từ đó, ý niệm là cơ sở quan trọng đối với việc phân tích, đánh giá ngôn bản.

Nếu quan niệm được xem như cái gì đó có liên hệ với một hình thức ký hiệu nhất định tên gọi chung đại diện cho một lớp sự vật, thì ý niệm là sự kiện của lời nói, gắn chặt với người nói, luôn định hướng đến người nghe và phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc. Do đó, ý niệm không những mang đặc trưng miêu tả mà còn mang cả đặc trưng tình cảm của người nói, của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ.

2. Bài ca dao đang phân tích gồm một tham thoại trao và một tham thoại đáp. Trong ca dao đối đap, tham thoại đáp không đòi hỏi nghiêm ngặt về tính chính thể của hệ thống cũng như các yếu tố của chúng đối với lời nói đối, nhưng giá trí của các yếu tố, của các hệ thống phải được tôn trọng và phát triển để tạo nên tính thắng thua (về trí tuệ và sử dụng ngôn từ) giữa vai đối (người đối) và vai đáp (người đáp).

Người đối là chàng trai (trong vai) chưa vợ; người đáp là cô gái (trong vai) chưa chồng. Lời đối của chàng trai:

Cưới nàng, anh toan dẫn voi,

Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.

Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,

Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân,

Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.

Vai đối đã đặt ra cho vai đáp nhiều điều.

a) Sử dụng thơ thể lục bát và đảm bảo được tính liên kết với lời đối.

Câu hát cuối cùng của lời đối kết thúc bằng àng.Điều đó có nghĩa là lời đáp phải bắt đầu bằng câu lục với từ cuối phải là thanh bằng và vần anghoặc àng.

Trong chừng mực đó, chàng trai đã thể hiện sự quan tâm của mình đối với họ nhà gái. Do đó, trong lời đáp, cô gái phải bắt đầu bằng thái độ của mình đối với tình cảm ấy và phải phù hợp với vị thế của người vợ đối với người chồng tương lai.

b) Giải mã được ý niệm của chàng trai về lễ vật dẫn cưới, về bữa tiệc mời họ hàng, làng xóm.

Quá trình giải mã này liên quan nhiều đến văn hoá cưới xin của người Việt Nam, đến ý niệm của chàng trai về lễ vật dẫn cưới, về tiệc báo hiếu khi người con gái đi lấy chồng, về phẩm hạnh của người phụ nữ…

(i) Làm thịt chuột (nghĩa tường minh) để tổ chức bữa tiệc mời dân, mời làng là việc quá khó nhưng nếu người đáp thực hiện được thì cũng chỉ đáp ứng được yêu cầu thứ nhất trong cái chỉnh thể mà chàng trai đặt ra. Cái chỉnh thể này được thể hiện ở sự tích hợp nghĩa các chi tiết được nêu trước đó.

(ii) Giá trị nghĩa của chuột trước hết là giá trị của lễ vật dẫn cưới trong hệ thống cùng voi, trâu, bò, thú bốn chân. Hệ thống này thể hiện tính nguyên, trọn: chàng trai muốn dẫn cuới nguyên/ trọn cả con.

(iii) Qua lập luận của mình, chàng trai thể hiện sự quan tâm của mình đối với gia đình, họ hàng nhà gái qua sợ(ba lần). Cái sợcủa chàng trai biểu hiện nghĩa “không yên lòng do lường trước khả năng không hay nào đó” [6,870] xẩy ra với họ hàng nhà gái. Dù là lập luận hài hước, nhưng trong cái hài hước đó vẫn thể hiện rõ ý niệm của chàng trai về trách nhiệm đối với người thân.

(iv) Chàng trai đã dẫn dắt từ việc bàn lễ vật dẫn cưới, đến việc tổ chức bữa tiệc mời họ hàng, dân làng đến chung vui trước khi cô gái đi lấy chồng qua việc nêu: dẫn trâu, sợ họ máu hàn; dẫn bò, sợ họ nhà nàng co chân; dẫn con chuột béo, mời dân mời làng.Tất cả những chi tiết đó làm cho người nghe nhận thấy lễ vật dẫn cưới là thành phần của một bữa tiệc có họ hàng và dân làng.

(v) Bữa tiệc đó là một bữa tiệc sang, to. Tiệc sang, trong ý niệm của người Việt Nam trước đây, là tiệc có mổ bò, mổ lợn hoặc mổ trâu, mổ bò (thú bốn chân). Tiệc to là tiệc mời đông người đến chung vui. Dựa trên ý niệm đó, chàng trai đã khôn khéo đánh đồng voi, trâu, bòvới chuột.Với cách lập luận này, chàng trai không những đặt vấn đề sang và to trong bữa tiệc mà còn nêu ra một vấn đề khác: tuỳ điều kiện vật chất của mình để thực hiện được bữa tiệc sang và vẫn to.

(vi) Một vấn đề khác được chàng trai đặt ra là sự hiếu thuận của người Việt Nam đối với gia đình, họ hàng, làng xóm. Khi xưa, nhà nào có chuyện vui (hỉ), nhà đó đều muốn được mời và gần như họ cảm thấy có bổn phận mời họ hàng, làng xóm đến chia vui với gia đình mình. Dựng vợ, gả chồng cho con là niềm vui của cả hai nhà, hai họ, là song hỉ.Thêm vào đó, con gái về nhà chồng là xa nhà, xa họ tộc, làng xóm để về lo việc nhà, việc họ nhà chồng. Do đó, nhà gái (trong đó bản thân cô gái) thường mời họ hàng, làng xóm đến dự để báo ơn công lao dưỡng dục. Điều đó được chàng trai thể hiện một cách kín đáo qua việc nhờ cô gái tính giùm: mời dân, mời làng.

Tóm lại, bằng cách lập luận hài hước, chàng trai đã đưa ra rất nhiều dữ liệu trong lời nói đối của mình nhằm thử trí, ngôn, công và hạnh của cô gái, vai đáp (trong vai người chưa có chồng).

3. Nếu coi lời nói đối của chàng trai là phần đề của bài ca dao, cái được nêu lên để được nhận định, thì lời đáp là phần thuyết, tức phần mang nội dung thuyết minh rõ về cái được nêu ra.

Phần thuyết, tức lời đáp của bài ca dao đã thể hiện sự hoàn hảo về sử dụng ngôn từ, thể hiện sự thông minh, sắc sảo về trí tuệ, sự từng trải của một người biết lo toan và sự hiếu thảo của một người con gái.

3.1 Trước hết phải nói rằng, cô gái đã thông minh nhận ra nội dung bài toán cùng tất cả những “điều kiện” của nó (như đã nêu ở trên). Mở đầu lời đáp, cô duyên dáng: “ Chàng dẫn thế, em lấy làm sang,/ Nỡ nào em lại phá ngang như là…”. Em cảm thấy sang, tức cảm thấy “có tiền tài và danh vọng, được nhiều người trong xã hội kính trọng” [6, 846]. Nói ra điều đó, cô gái đã “tỏ lòng biết ơn với người đã làm điều tốt cho mình” [6, 107]. Một cách cảm ơn kín đáo và tế nhị như bản chất của người con gái Việt nam. Thêm vào đó, câu phá luật (bảy chữ thay cho sáu chữ) đã tôn cái e lệ, cái nhẹ nhàng và đáng yêu trong lời nói của cô gái. Thế nhưng, tính liên kết giữa lời đối và lời đáp vẫn được đảm bảo chặt chẽ đến tuyệt vời.

Đó là cái đẹp về trí tuệ và cái đẹp về ngôn từ của người con gái.

3.2 Trong mạch liên kết về cả hình thức lẫn nội dung đó, cô gái tiếp tục: “ Người ta thách lợn, thách gà/ Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”. Đó là một lời phản bác nhẹ nhàng của cô gái đối với lễ vật dẫn cưới của chàng trai.

Chàng trai xưng anh(ngôi thứ nhất, số ít) và tự nhận dẫncưới. Cô gái thông minh và khôn ngoan đáp nhà em thách cưới.Thách cưới- “Ra điều kiện cho nhà trai về sính lễ để gả con gái cho” [6, 909]. Và thách cưới được thực hiện trước dẫn cưới. Chưa thách sao đã dẫn? Tiếp, nhà emđã thách đâu mà anh định dẫn sang thế? Và hơn nữa, chưa biết yêu cầu của nhà gái về lễ vật dẫn cưới (tức chưa có thách) thì dầu lễ vật dẫn cưới có sang thì nhà trai vẫn chưa tôn trọng nhà gái. Cô gái đã thắng. Cô gái còn cao tay hơn nữa: Nhà em(ngôi thứ nhất số nhiều) thách cưới. Thách cưới và dẫn cưới phải lấy tư cách gia đình, họ tộc.Anh (con trai) dẫn cưới với tư cách cá nhân đâu có được. Như vậy là:

Chàng dẫn thế, em lấy làng sang

Nỡ nào em lại phá ngang như là

Người ta thách lợn thách gà

Nhà em thách cưới một nhà khoai lang

Kiểu sắc sảo trong ăn nói như bốn câu trên chỉ có ở phụ nữ.

3.3 Với thách cưới một nhà khoai lang, ở một bậc cao hơn, cô gái thể hiện trí tuệ của mình khi một hệ thống mới có chứa các yếu tố mà chàng trai đã đặt ra: lễ vật thách/ dẫn cưới, nguyên/ trọng và hiếu thảo.

Củ to thì để mời làng,

Còn như củ nhỏ, họ hàng ăn chơi.

Bao nhiêu củ mẻ, chàng ơi!

Để cho con trẻ ăn chơi giữ nhà;

Bao nhiêu củ rím, củ hà,

Để cho con lợn, con gà nó ăn…

Một nhàbao hàm nghĩa trọn,tức “đầy đủ, đến tận cùng một giới hạn, một phạm vi nào đó” [6, 1038] và nguyên vẹn, tức “hoàn tất đầy đủ, không bị suy suyển, mất mát” [6, 694].

Một nhà khoai lang đã trọn, đã nguyên. Đến đem chia ra, nó vẫn nguyên là khoai, củ vẫn là củ to, củ nhỏvà đến cả củ mẻ, củ rím, củ hàcũng trọn là khoai và vẫn nguyên cả củ. Tính nguyên, trọngtrong đám cưới, trong mời họ, mời làng có ý nghĩa rất lớn với người Việt Nam .

Lễ vật dẫn cưới của chàng trai dẫn là nguyên cả con cũng chưa nguyên, chưa trọn.

Lễ vật dẫn cưới của chàng trai là thú bốn chân.Tuy nhiên, để mời dân, mời làng(tức trong hệ thống tiệc), thì nguyên cả conkhông còn đảm bảo được tính nguyên vẹn nữa. Bởi vì, trong hệ thống của bữa tiệc cưới này, thú bốn chân đã biến thành (yếu tố) thực phẩm. Và, trong tâm thức của người Việt Nam , thực phẩm chỉ là một bộ phận (đối lập với ngũ cốc) của bữa tiệc mà thôi: Một bữa tiệc, thực phẩm dẫu rất cao sang, nhưng thiếu (thành tố) ngũ cốc thì vẫn không trọn vẹn. Nói cách khác, cô gái đã ngầm nói rằng, nguyên cả con chuột, con bò, con trâu hay con voi đi nữa, khi đã sử dụng để mời làng xóm thì chúng cũng không còn tính nguyên, tính trọn nữa.

Khoai lang, dẫu là loại ngũ cốc của người Việt Namnghèo khổ, là loại ít giá trị về vật chất, nhưng với mọi người Việt Nam nghèo có thể được dùng độc lập cho một bữa tiệc đơn sơ: Một bữa tiệc chỉ có (nguyên) khoai. Sử dụng khoai lang để mời thì khách mời, từ làng xóm, họ hàng đến con trẻ, ai cũng được hưởng cái trọn, cái nguyên vẹn của lễ vật thách/ dẫn cưới. Đó là tấm lòng, là cái thông minh của cô gái. Cô gái hoàn toàn đúng: Cái sang của vật chất không phải tự trong nó, mà chính là ở cách mời, là tấm lòng của người mời.

3.4 Trong đối đáp của mình, cô gái đã chọn trọn, nguyênlàm hệ thống cho các yếu tố (lễ vật thách/ dẫn cưới, bữa tiệc, sự hiếu thuận) còn lại. Cô đã sử dụng lễ vật thách/ dẫn cưới một cách “đầy đủ, đến tận cùng” về chủng loại: to - nhỏ, nguyên - mẻ, tốt - xấu. Ngay cả loại bỏ đi (củ rím, củ hà) cũng được tính toán sang cho hệ thống trọn:trọn việc nhà.

Tính trọn trong lời đáp của cô gái còn thể hiện nghĩa đầy đủvà nghĩa sử dụng hếtqua liệt kê củ to thì…, còn như củ…, bao nhiêu củ…Sự đầy đủ về khả năng lo toan của người đáp được thể hiện qua sự quan tâm đến mọi người từ làng xóm đến họ hàng, gia đình ( làng, họ hàng, con trẻ), qua việc tính toán sử dụng lễ vật dẫn/ thách cưới. Đó là ý niệm của cô gái về hiếu thảo. Và đó chính là cái phẩm hạnh đáng tôn trọng của cô gái.

Song song với nghĩa sử dụng hếtnêu trên, bằng việc sử dụng các tập hợp ăn chơi, giữ nhà, để cho con lợn, con gà nó ăncô gái cũng đã chứng tỏ cái côngbên cạnh cái hạnh của mình.

Tóm lại, chỉ với mười dòng thơ gồm bảy mươi mốt chữ bình dị (trong tham thoại đáp), qua các hệ thống lễ vật dẫn/ thách cưới, tiệc vui, hiếu thuận, cô gái đã thể hiện một cách cô đọng ý niệm của mình về tính trọn vẹn trong đối nhân, xử thế phù hợp với hoàn cảnh nghèo khó của những người lao động.

Bài ca dao không chỉ phản ánh cái hóm hỉnh, tính trào lộng của người lao động trong cảnh nghèo mà còn phản ánh, bảo tồn bản sắc văn hoá Việt Nam, ca ngợi cái trí, cái ngôn, cái hạnh và cái công của người phụ nữ. Đó là những nội dung đã tạo nên sức sống cho bài ca dao. Thiết tưởng, chúng cần được giới thiệu cho học sinh trung học phổ thông khi dạy - học ngôn bản này.

Tài liệu tham khảo

1. Trần Văn Cơ,Ngôn ngữ học tri nhận là gì? Ngôn ngữ, 2006 (7), tr 1 - 15.

2. Fairclough, N.,Analysing Discourse , Routledge, 2003.

3. Jackendoff, R.,Semantics and cognition; Cambridge (Mass), 1983.

4. Longman,Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics, Longman, 1993.

5. Nguyễn Đức Tồn,Tìm hiểu đặc trưng văn hoá dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt ( trong sự so sánh với những dân tộc khác), Nxb ĐHQG, H. 2002.

6. Viện Ngôn ngữ học,Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2000.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Vĩnh Long: Tôn vinh 88 trí thức tiêu biểu năm 2025
Sáng ngày 13/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã long trọng tổ chức Hội thảo khoa học “Chuyển đổi số và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW” gắn với lễ Vinh danh trí thức tiêu biểu năm 2025. Đây là hoạt động ý nghĩa nhằm chào mừng Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam 18/5.
Đắk Lắk: Hệ thống quản lý thư viện - văn thư tích hợp trí tuệ nhân tạo SmartLibDoc.AI
Đây là giải pháp đoạt giải Nhì Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (khu vực phía Tây) giai đoạn 2024-2025. Giải pháp khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, xây dựng một cơ sở dữ liệu tập trung, thống nhất, tránh nhập liệu trùng lặp, dễ dàng tổng hợp báo cáo liên ngành; Giải quyết bất cập trong mượn - trả thủ công, thay bằng quản lý tự động, có nhắc hạn trả, có thống kê chính xác…
Sơn La: Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Ngày 12/5, tại Xã Ngọc Chiến, tỉnh Sơn La, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật tỉnh Sơn La, Quỹ Bảo vệ và Phát triển Rừng, Đảng uỷ, HĐND, UBND xã Ngọc Chiến phối hợp tổ chức Lễ Phát động trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” nhân kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) và Ngày sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5).
Tuyên Quang: Hội thảo Bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết
Chiều 12/5, tại khách sạn Mường Thanh, tỉnh Tuyên Quang, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tổ chức hội thảo khoa học: “Giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị quần thể di sản Chè Shan tuyết cổ thụ gắn với cải thiện, sinh kế cộng đồng địa phương tỉnh Tuyên Quang”.
Hải Phòng: Hội nghị thông tin chuyên đề về tình hình đối ngoại của Việt Nam
Sáng 09/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố đã tổ chức Hội nghị thông tin chuyên đề “Một số tình hình liên quan tới đối ngoại trong thời gian qua”, thu hút sự quan tâm tham dự của đông đảo lãnh đạo, hội viên các Hội thành viên, Trung tâm, Câu lạc bộ, Viện trực thuộc và các tổ chức thành viên Liên hiệp hội.