Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 14/04/2006 01:02 (GMT+7)

Trào lưu mới trong kiến trúc phật giáo Việt Nam

Giá trị to lớn của những di sản truyền thống đó đã nhận được sự quan tâm đặc biệt không chỉ của Nhà nước Việt Nam mà còn có sự hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế. Những di sản này cũng luôn có sự đánh giá của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn và báo giới… Tuy nhiên, có một trào lưu kiến trúc đã ra đời từ hơn 100 năm qua, hiện vẫn đang tồn tại và phát triển với tốc độ ngày càng mạnh mẽ thì lại rất ít được nhắc đến.

Bài viết này chỉ là cách đặt vấn đề với một khía cạnh về kiến trúc chưa được quan tâm đúng mức: Đó là một trào lưu mới trong kiến trúc Phật giáo ViệtNam . Mặc dù loại hình kiến trúc này đã xuất hiện từ hơn 100 năm qua, nhưng phải gọi là trào lưu mới vì độ tuổi của chúng là “non trẻ” so với các kiến trúc đá và gỗ được xây dựng dưới các triều đại trước. Đặc biệt, về nguyên liệu và kỹ thuật xây dựng hoàn toàn mới so với kiến trúc truyền thống Việt Nam . Đó là những công trình kiến trúc được xây bằng gạch và bê-tông. Ở đây tạm gọi là trào lưu kiến trúc mới.

Sự ra đời của trào lưu kiến trúc mới

Trào lưu kiến trúc này bắt đầu từ khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và được định hình rõ dưới thời vua Khải Định (1916-1925). Đây là giai đoạn mà những xung đột giữa mớivà cũ,giữa Tâyvà ta,giữa phong kiếnvà cải cách… diễn ra rất gay gắt. Người Pháp lúc này với danh nghĩa của chính quyền bảo hộ đã đưa vào xã hội thuộc địa nhiều sản phẩm của “mẫu quốc văn minh” trong đó có ximăng, sắt Tây, ngói Tây và nhà Tây. Sau khi cung An Định, lăng Khải Định… (những công trình kiến trúc lớn theo trào lưu mới) được hoàn thành, người Việt Nam chợt nhận ra những ưu điểm nổi trội của loại kiến trúc này như: có thể xây được nhiều tầng, độ bền cao, kín đáo hơn, ít mối mọt hơn, v.v.. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, các loại nguyên - vật liệu mới được đưa từ phương Tây đến rất đắt nên chỉ những công trình “của Tây” và một vài nhiệm sở quan trọng mới được xây theo kiểu “nhà Tây”. Dần dần, một trào lưu kiến trúc mới được hình thành từ những nguyên - vật liệu gọi là “Tây” nhưng đa phần sản xuất ở ta.

Ngoại trừ “nhà Tây” và một số nhiệm sở được thiết kế và xây dựng dưới sự giám sát của người Pháp, còn lại đa phần là nhà ở của dân và các công trình tôn giáo - tín ngưỡng đều do người Việt làm. Nhà ở của dân là sự kết hợp khéo léo giữa kiểu nhà trệt khung gỗ truyền thống với các loại vật liệu mới tạo thành một loại nhà gạch, kèo gỗ gác tường, lợp ngói đất nung. Cá biệt có một vài loại nhà lầu sàn gỗ của các thương gia, địa chủ nhiều tiền, còn hầu hết nhà dân đều có chung một mô típ là nhà trệt 3-5-7-9 gian với 2 mái lợp ngói hoặc tranh. Đối lập với hình thức nhà ở đơn giản của người dân, các công trình tôn giáo - tín ngưỡng thời kỳ này mà chủ yếu là chùa được đầu tư lớn và xây cất rất cầu kỳ. Với sự góp mặt của các loại vật liệu mới, các công trình này đã tạo nên một trào lưu mới trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam . Trào lưu này phát triển mạnh ở miền Nam Việt Nam , sau đó lan rộng ra miền Bắc và cả nước. Theo ước tính, những công trình kiến trúc Phật giáo được xây dựng theo trào lưu này đã chiếm đến quá nửa số ngôi chùa tháp và Phật viện ở Việt Nam tính đến nay. Có thể điểm qua một số công trình lớn như, cùa Vĩnh Tràng (Tiền Giang), chùa Thiên Lâm (Vũng Tàu), chùa Bà Đen (Tây Ninh), chùa Linh Sơn (Đà Lạt), Việt Nam Quốc tự (TP.Hồ Chí Minh), chùa Pháp Vân (Hà Nội), v.v… điều này cho thấy trào lưu mới trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam đã phát triển đến một giai đoạn cực thịnh. Vậy cần đánh giá về trào lưu này như thế nào? Đó là một công việc lớn không chỉ của các nhà hoạch định chính sách mà còn rất cần đến ý kiến của các nhà chuyên môn. Tuy nhiên, “vấn đề lớn” này cho đến nay vẫn hầu như chưa có ai đề cập tới. Bài viết này chỉ đưa ra một số ý kiến cá nhân mang tính chất gợi ý để được bàn luận cùng các nhà khoa học của các ngành có liên quan.

Ghi nhận về trào lưu kiến trúc mới trong nền kiến trúc Phật giáo Việt Nam

Có thể nói, sự phát triển của trào lưu mới trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam là một xu thế tất yếu của lịch sử vì những lí do sau:

Thứ I, nguồn nguyên liệu gỗ và đá truyền thống đã hầu như cạn kiệt do khai thác quá mức và bừa bãi.

Thứ II, nếu xét về tính thời đại thì thế kỷ XX là giai đoạn khởi đầu của “thời đại bê-tông”. Vì vậy mà những công trình bằng bê-tông của giai đoạn này được xem như những công trình mang tính “thời đại”.

Thứ 3, những công trình được xây dựng mới bằng vật liệu truyền thống trong giai đoạn hiện tại sẽ “ngốn” những khoản kinh phí khổng lồ. Chẳng hạn như Thái học đường ở Văn Miếu - Quốc Tử Giámsử dụng hết 26 tỷ đồng. Số tiền này đủ để xây dựng khoảng 30 công trình tương tự bằng bê-tông!

Thứ 4, độ bền của các kiến trúc gỗ (kể cả gỗ nhóm một như đinh, trai, sến, táu) cũng kém hơn so với độ bền của bê-tông.

Thứ 5, việc thi công các công trình bê-tông rất đơn giản nhưng lại đạt hiệu quả cao vì thời gian thi công rất ngắn so với các loại vật liệu truyền thống.

Thứ 6, nhu cầu về diện tích sử dụng ngày càng cao trong khi quỹ đất và kinh phí xây dựng chỉ có hạn…

Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, không một loại nguyên - vật liệu nào có thể thay thế hoàn toàn được gạch, ngói, bê-tông trong xây dựng. Và có lẽ trong tương lai gần cũng vậy.

Vấn đề nhạy cảm nhất mà các công trình theo trào lưu mới gặp phải là yếu tố nghệ thuật, mà cụ thể là nghệ thuật điêu khắc vì chất liệu bê-tông không thể tạo ra những tác phẩm điêu khắc tinh tế như gỗ và đá. Tuy nhiên, với lợi thế về độ cứng nhưng lại có thể dùng khuôn đúc, chất liệu bê-tông đã dần gánh vác hầu hết “trách nhiệm” của cả gỗ và đá. Và “nghệ thuật tạo hình bê-tông” không chỉ được sử dụng trong xây dựng mà còn dùng trong trang trí kiến trúc và cả trong nghệ thuật đúc tượng. Đó chính là tiền đề để trào lưu mới trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh mẽ.

Với trào lưu này, nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Việt Nam đã có một bước chuyển lớn từ dạng kiến trúc truyền thống gần như giống hệt nhau trở thành một trào lưu kiến trúc mới với vô vàn cách biểu hiện khác nhau. Điều đáng ghi nhận ở những kiến trúc này là chúng được hình thành từ nhiều phong cách kiến trúc khác nhau tạo nên một hệ thống các công trình kiến trúc Phật giáo phong phú mà vẫn giữ được nét riêng trong bản sắc văn hoá Việt Nam . Đó là những nét kiến trúc truyền thống vận dụng linh hoạt vào các công trình mới, biểu hiện qua một số thành tố kiến trúc như bộ mái, tỷ lệ, hoa văn trang trí… đặc biệt, góc đao cong luôn là một điểm nhấn trong nhiều công trình kiến trúc Phật giáo. Chính những yếu tố này đã tạo nên một loạt những kiến trúc Phật giáo đẹp theo trào lưu mới.

Ở những công trình này, vẻ đẹp kiến trúc của chúng không chỉ gợi lại được những nét đặc sắc trong kiến trúc truyền thống Việt Nam mà còn sáng tạo thêm nhiều yếu tố như hình khối kiến trúc, bố cục mặt bằng, tổ chức không gian, v.v… Những yếu tố mới này đã góp phần tạo nên một loại hình kiến trúc hiện đại mà vẫn mang vẻ đẹp của kiến trúc truyền thống Việt Nam không hề lẫn lộn với các dòng kiến trúc Phật giáo lớn bên cạnh chúng ta như Trung Hoa, Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia, Myanma,… hay với các kiến trúc tôn giáo khác. Thực tế cho thấy, trào lưu kiến trúc mới trong nghệ thuật kiến trúc Phật giáo Việt Nam đã và đang khẳng định vai trò và vị trí của nó trong bối cảnh mới. Những đóng góp của trào lưu kiến trúc này với kiến trúc Phật giáo Việt Nam nói riêng và trong nền văn hoá Việt Nam nói chung là không nhỏ mà khuôn khổ một bài viết không thể khái quát hết. Hy vọng trong tương lai sẽ có nhiều nhà chuyên môn quan tâm hơn đến trào lưu kiến trúc này.

Những “hạt sạn” cần được loại bỏ

Sự ra đời và phát triển của bất cứ một trào lưu nghệ thuật nào cũng đều có mặt phải và mặt trái. Mặt trái của trào lưu kiến trúc mới ở đây là sự lạm dụng một cách thái quá những đặc điểm của nguyên liệu, công nghệ… để “đẻ ra” những công trình kiến trúc phi nghệ thuật. Các kiến trúc sư có tâm huyết gọi đó là những quái thaicủa nền kiến trúc hiện đại được sản sinh ra từ các loại hội chứng như “hội chứng sùng cổ”, “hội chứng sùng ngoại”, “hội chứng sùng nhọn”, hay “hội chứng mái cong”… Đó là những loại hình nhà chóp hình chùa, hình “nhà hát lớn”, hình thánh đường Hồi giáo… Chủ nhân của những công trình này là những người “thừa tiền nhưng thiếu kiến thức”, họ tưởng rằng đó là “truyền thống”, là “cổ điển”… nhưng khi những “quái thai” đó được bê-tông hoá rồi thì họ chợt nhận ra “đứa con” dị dạng của mình nhưng không thể phá đi mà xây lại được. Những loại kiến trúc này có thể nhìn thấy đầy rẫy ở những khu “giãn dân”, khu quy hoạch mới và cả… khu “lấn chiếm” nhan nhản khắp nơi.

Toà tháp “chọc trời” trong vườn mộ chùa Trấn Quốc
Toà tháp “chọc trời” trong vườn mộ chùa Trấn Quốc
Bên cạnh những quái thai của các loại hội chứng, sự có mặt của một vài kiến trúc mới lại góp phần “phá hoại” các công trình lịch sử - văn hoá và cảnh quan môi trường. Những “Hàm cá mập”, “HàNội vàng”… đã có quá nhiều người nói tới, ở đây tôi chỉ xin lấy một ví dụ về sự lạm dụng trào lưu kiến trúc mới đã “phá hoại” một di tích lịch sử văn hoá và cảnh quan môi trường nổi tiếng, đó là việcxây “toà tháp chọc trời” trong khuôn viên chùa Trấn Quốc (Hà Nội). Chùa Trấn Quốc là một ngôi chùa nổi tiếng không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới vì nó gắn liền với lịch sử “khai quốc” của quốcđô Thăng Long và Lý Nam Đế từ thế kỷ thứ VI. Chùa Trần Quốc xưa còn có tên là An Trì, An Quốc, Khai Quốc. Tên gọi Trấn Quốc có từ thời Lý do việc Lý Thường Kiệt trước khi tiến đánh châu Khâm, châuLiêm của nhà Tống (1075) đã nghỉ ở đây và mộng thấy thần hiển linh giúp “trấn quốc chi uy”, sau trình lên vua, được vua cho đặt tên là Trấn Quốc. Theo một văn bia do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chínhviết vào năm Dương Hoà thứ 5 hiện lưu giữ tại chùa, thì chùa Trấn Quốc xưa nằm ngoài đê sông Nhị thuộc làng Yên Phụ. Năm Hoàng Định thứ 14 đời Lê Kính Tông, dân làng dời chùa vào trong đảo Cá Vàng.Như vậy, kiến trúc hiện nay của chùa Trấn Quốc phải được làm trước thế kỷ XVII, sau này được trùng tu và xây thêm tam bảo, thiêu hương và tiền đường vào năm 1624; hậu đường, hành lang và tam quan vàonăm 1639 dưới triều Lê Thần Tông. Cũng cần lưu ý là các kiến trúc gỗ trước thể kỷ XVII còn sót lại chỉ đếm được trên đầu ngón tay nên chúng được xếp voà loại đặc biệt quý hiếm.

Giá trị của chùa Trần Quốc không chỉ ở các kiến trúc mà nó còn có giá trị đặc biệt ở cảnh quan thiên nhiên. Nằm giữa bốn bề sóng nước hồ Tây, chùa Trấn Quốc ẩn mình sau những lùm cây xanh mờ ảo trong sương mù của Dâm Đàm (tên cũ của hồ Tây có nghĩa là đầm Sương Mù). Sự cộng hưởng của kiến trúc truyền thống với cảnh quan thiên nhiên đã tạo cho chùa Trần Quốc một vẻ đẹp lý tưởng trong suốt quãng thời gian từ khi nó có mặt cho tới lúc toà tháp chọc trời mọc lên phá tan cái vẻ u tịch cổ kính vốn có.

Ngôi tháp này cao hơn 10 tầng, sừng sững án ngữ chính giữa khoảng không gian thanh bình của chùa Trần Quốc. Nó đối nghịch với cái tĩnh mịch của ngôi chùa, xé rách màn sương mờ ảo của hồ Tây ẩn hiện trong màu xanh cây lá bằng một màu vàng rợn, khê nồng. Nó ngạo nghễ ngoi lên khỏi khu vường mộ thâm nâu ẩn dưới vòm cây như thách thức với cái vẻ thanh bình vốn có của khu chùa… Rõ ràng một “tiếng đàn lạc điệu” đã phá tan “bản giao hưởng” tuyệt mỹ của kiến trúc truyền thống. Có thể coi đây là những hạt sạntrong nhiều hạt sạnđang “ cấu xé” vẻ đẹp của một thành phố cổ kính, thanh lịch, nhưng cũng mảnh mai, yếu đuối như một cô gái “liễu yếu đào tơ”.

Có lẽ không đâu thể hiện rõ như ở đây cái công thức: “nhiệt tình” cộng với “dốt nát” tại ra “phá hoại”. Sự góp mặt của bê-tông, vật liệu mới, công nghệ mới và trào lưu kiến trúc mới mà không có sự đóng góp “chất xám” của các kiến trúc sư và các nhà khoa học đã tạo nên một sự tàn phá nhanh hơn bất cứ loại giặc giã và thiên tai nào từng có. Bằng chứng là hàng trăm ngôi chùa cổ đang “rên xiết” dưới “ách bê-tông” của các công trình lấn chiếm xung quanh và cả trong khuôn viên chùa. Ở Hà Nội có duy nhất một ngôi chùa không thể bị lấn chiếm thì lại bị “phá từ giữa ra”, đó là chùa Trấn Quốc. Đã đến lúc Nhà nước cần phải có một chế tài cụ thể để bảo vệ các di tích này, nếu không chúng sẽ bị mặt trái của trào lưu kiến trúc mới phá nát. Nên chăng, chỉ cho phép xây dựng các kiến trúc theo trào lưu mới tách biệt với cảnh quan của các di tích, đặc biệt là các di tích quốc gia? Nên chăng, mọi công trình kiến trúc Phật giáo theo trào lưu mới phải có sự góp mặt của các kiến trúc sư và các nhà chuyên môn? Hy vọng những câu hỏi này sẽ sớm có lời giải đáp.

Có thể thấy rằng trào lưu nghệ thuật nào rồi cũng có lúc chấm dứt hoặc thay đổi, chỉ có nghệ thuật đích thực là tồn tại với thời gian. Một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật cho dù được làm bằng chất liệu gì và ở thời đại nào cũng sẽ được đánh giá bằng sự đóng góp của nó đối với nền văn minh của nhân loại. Trào lưu mới trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam sẽ tồn tại 100 năm hay 1.000 năm nữa? Điều đó không ai có thể trả lời được. Chỉ biết rằng những đóng góp tích cực của nó bằng những công trình có giá trị nghệ thuật cao sẽ được lịch sử ghi nhận và những sự “phá hoại” nào do nó gây ra sẽ bị lịch sử lên án. Tuy nhiên, đã bước vào thế kỷ XXI, con người có đủ khả năng để vẽ ra tất cả những ý tưởng của mình bằng những phương tiện hiện đại. Trong một điều kiện như vậy, chúng ta không nên để cho những “quái thai” của kiến trúc mới ra đời. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi chính quyền có những biện pháp mạnh tay trên cơ sở hoạch định của các nhà chuyên môn. Có như vậy thì trào lưu mới trong kiến trúc Phật giáo Việt Nam mới thực sự trở thành động lực để phát triển một nền kiến trúc Phật giáo Việt Nam hiện đại trong định hướng xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc như nghị quyết Trung ương V khoá 8 đã đề ra.

Nguồn: Dân tộc & Thời đại, số 77, 4/2005

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.