Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 15/09/2008 14:24 (GMT+7)

Tổng hội Địa chất Việt Nam: 25 năm hoạt động và phát triển (1983-2008)

Với mục đích đó, Tổng hội Địa chất Việt Nam đã tập hợp đông đảo các nhà địa chất từ các cơ sở sản xuất, các đơn vị khảo sát điều tra địa chất, tìm kiếm thăm dò khoáng sản, dầu khí, nước dưới đất đến các cơ quan nghiên cứu, các Viện, các Trường Đại học, các cơ quan quản lý trong cả nước. Tập hợp trong Tổng hội Địa chất Việt Nam đã có hơn 5.000 hội viên, trong đó có 50 GS, 155 PGS, hàng trăm TS, ThS, hàng ngàn KS địa chất, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề.

Trong 25 năm, qua từng bước xây dựng và phát triển, đến nay Tổng hội Địa chất Việt Nam đã đạt được mức phát triển tổ chức khá hoàn thiện từ các hội chuyên ngành Địa chất Trung ương, đến các hội, chi hội địa phương, Câu lạc bộ Búa vàng Địa chất, Tạp chí Khoa học Địa chất công trình và Môi trường và đã các đơn vị khoa học và công nghệ hoạt động trên khắp đất nước và có cả .

Tổng hội Địa chất Việt Nam có 15 hội chuyên ngành là: Cổ sinh - địa tầng Việt Nam, Kiến tạo Việt Nam, Đệ tứ - Địa mạo Việt Nam, Khoáng thạch học Việt Nam, Trầm tích Việt Nam, Địa hoá Việt Nam, Địa chất biển Việt Nam, Địa chất kinh tế Việt Nam, Đá quý Việt Nam, Địa chất than Việt Nam, Địa chất Dầu khí Việt Nam, Địa chất Thuỷ văn Việt Nam, Địa chất Công trình và Môi trường Việt Nam, Tuyển khoáng Việt Nam và Công nghệ khoan khai thác Việt Nam ; 3 Hội Địa chất tỉnh, thành là Yên Bái, Hải Dương, thành phố Hồ Chí Minh và 5 hội, chi hội địa phương.

Câu lạc bộ Búa vàng Địa chất đã tập hợp được đông đảo những người đã và đang hoạt động trong ngành địa chất.

Thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác khoa học và công nghệ của Đảng theo Nghị định 35 và Nghị định 81 của Chính phủ, Tổng hội Địa chất Việt Nam đã thành lập được 35 đơn vị khoa học và công nghệ, trong đó có 3 viện nghiên cứu, 16 liên hiệp khoa học sản xuất và 16 trung tâm nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật.

Tổng hội Địa chất Việt Nam đã động viên khích lệ các hội viên chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu hàng trăm đề tài về địa chất khu vực và các chuyên đề về cổ sinh địa tầng, kiến tạo, địa tứ địa mạo, trầm tích, địa hoá, khoáng thạch học, địa chất biển, địa chất than, địa chất dầu khí, địa chất thuỷ văn, địa chất công trình và môi trường, tuyển khoáng, khoan khai thác v.v.....

Trên toàn quốc, các nhà địa chất đã hoàn thành khảo sát đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1: 500.000, bản đồ địa chất ở tỷ lệ 1/200.000. Đặc biệt, công trình Bản đồ địa chất Việt Nam tỷ lệ 1: 500.000 do Trần Đức Lương, Nguyễn Xuân Bao chủ biên và Bản đồ Khoáng sản Việt Nam cùng tỷ lệ đó do Lê Văn Trảo. Trần Phú Thành chủ biên đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 2005.

Công tác lập bản đồ địa chất ở tỷ lệ 1: 50.000 đã và đang được tiến hành và đến nay đã hoàn thành trên 75% diện tích lãnh thổ. Qua điều tra địa chất ở các vùng đô thị, các đới cấu trúc địa chất quan trọng, các diện tích ven biển v.v......đã cho các kết quả thích hợp quan trọng về địa chất, cấu trúc địa chất, đặc biệt là về triển vọng các loại khoáng sản phục vụ cho việc quy hoạch sử dụng tổng hợp khoáng sản và phát triẻn các vùng lãnh thổ.

Công tác bay đo địa vật lý tỷ lệ 1: 50.000-1:25.00 đã phủ gần 30% lãnh thổ, đã khoanh định được nhiều cụm dị thường phản ánh đặc điểm cấu trúc địa chất và khoáng sản liên quan, đặc biệt là urani, vàng, thiếc, quặng sắt.v.v.....

Việc điều tra địa chất thuỷ văn đã thực hiện gần 250.000 km­ 2tạo cơ sở khoa học cho việc đánh giá nước dưới đất ở các vùng quan trọng như đồng bằng Bắc Bộ, Nam Bộ, Tây nguyên và các đô thị khu dân cư ven biển, ở tỷ lệ 1: 50.000 - 1: 25.000 đã được tiến hành trên diện tích gần 50.000 km2.

Việc đánh giá nguồn nước dưới đất đã được triển khai ở hơn 30 khu vực, tại hàng trăm điểm dân cư thị trấn và gần 20 đảo, qua đó đã phát hiện đuợc nhiều nguồn nước sạch. Ba mạng quan trắc quốc gia, động thái nước dưới đất đã cung cấp các số liệu phục vụ cho việc quản lý khai thác nước dưới đất.

Đến nay, các nhà Địa chất Việt Namcó nhiều phát hiện trong việc đánh giá tài nguyên khoáng sản của Việt Nam . Đất nước ta với diện tích không lớn nhưng có tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú là nguồn động lực quan trọng để phát triển đất nước.

Chúng ta đã nghiên cứu đánh giá được tài nguyên dầu khí là 4,3 tỷ tấn, trong đó đạt trữ lượng 1,2 tỷ tấn. Đặc biệt, việc phát hiện ra dầu trong móng nứt nẻ trước Đệ Tam ở mỏ Bạch Hổ của Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro vào năm 1988 là sự kiện địa chất quan trọng đã làm thay đổi các quan điểm thăm dò truyền thống, cùng với việc áp dụng các giải pháp công nghệ mới vào thăm dò dầu khí ở Việt Nam đã đem lại thành quả lớn gia tăng trữ lượng dầu khí đáng kể cho đất nước.

Ở Việt Nam hiện có các loại than antracit với tổng tài nguyên trên 10 tỷ tấn trong đó trữ lượng khai thác trên 2 tỷ tấn, than mỡ: trên 11 triệu tấn, than lignit có tiềm năng hàng trăm tỷ tấn, than bùn chủ yếu ở đồng bằng Nam Bộ với trữ lượng không lớn.

Nước ta còn có hơn 400 nguồn nước nóng với tiềm năng địa nhiệt khoảng vài trăm MW.

Việt Nam cũng đã phát hiện có urani có thể thăm dò phục vụ cho phát triển kinh tế

Tài nguyên trữ lượng quặng sắt của Việt Nam đạt trên 1 tỷ tấn, trong đó có các mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh với trữ lượng 544 triệu tấn, đang được nghiên cứu khai thác. Các mỏ cromit ở Thanh Hoá, Mangan ở Cao Bằng. Niken ở Sơn La, Titan phân bố ở nhiều nơi dọc bờ biển cũng đã và đang được đánh giá khai thác phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội.

Mỏ đồng Sin Quyền, Lào Cai có trữ lượng trên nửa triệu tấn đồng cùng với vàng, bạc, đất hiếm, đang được khai thác. Một số mỏ chì , kẽm, antimon ở Miền Bắc với quy mô trữ lượng trung bình. Nhiều mỏ thiếc và vonfram đã được phát hiện ở Tam Đảo, Quỳ Hợp, Lâm Đồng đã và đang được khai thác.

Quặng bauxit được phát hiện ở Tây Nguyên với tài nguyên hàng tỷ tấn có triển vọng khai thác trong thời gian tới. Ngoài ra bauxit trầm tích Permi ở Việt Bắc cũng đã được thăm dò.

Vàng đã được phát hiện ở Việt Nam từ lâu. Một số mỏ đã được khai thác nhưng trữ lượng không lớn.

Đất hiếm được phát hiện ở Lai Châu, Yên Bái, được đánh giá có trữ lượng rất lớn, cần được nghiên cứu sử dụng trong tương lai.

Quặng photphat kiểu apatit trầm tích biến chất ở Lao Cai đã được thăm dò và có tài nguyên trên 2 tỷ tấn và trữ lượng khoảng 900 triệu tấn. Các vùng quặng baryt, fluorit, pyrit, graphit, talc, asbet, muscovit, felspat, magnesit, thạch anh tinh thể v.v.... đã được điều tra và cho quy mô trung bình- nhỏ.

Việt Nam có trữ lượng rất lớn đá vôi xi măng, dolomit, ngoài ra các loại sét gốm, kaolin, pyrophylit, diatomit, bentonit, cát silic, v.v.... có trữ lượng cỡ trung bình có nơi đạt trữ lượng lớn. Ở nhiều nơi có các loại vật liệu xây dựng, đá trang trí ốp lát đang được khai thác phục vụ trong nước và xuất khẩu.

Đá quý chủ yếu là ruby, saphia được phát hiện ở Lục Yên, Yên Bái, Quỳ Châu Nghệ An, Đăk Nông, Bình Thuận. Đặc biệt ruby ở Việt Namcó chất lượng cao đạt cỡ quốc tế có giá trị thương mại cao tương đương ruby của Myanmar .

Cùng với việc lập bản đồ địa chất, tìm kiếm thăm dò các mỏ, việc nghiên cứu chuyên đề về cổ sinh - địa tầng, kiến tạo, magma, trầm tích, biến chất, địa mạo, đệ tứ, vỏ phong hoá, địa hoá, địa vật lý, khoan khai thác, tuyển khoáng v.v.... đã cho các kết quả lý thú góp phần làm sáng tỏ cấu trúc địa chất, lịch sử phát triển địa chất lãnh thổ Việt Nam, làm giầu những hiểu biết về lòng đất Việt Nam nói riêng và khu vực Đông NamúA và thế giới nói chung.

Có được các thành quả kể trên không thể tách rời với công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và các cán bộ quản lý.

Đất nước ta tự hào vì những thành tựu của ngành địa chất Việt Nam và cũng tự hào vì đã có những cán bộ và các hội viên địa chất tâm huyết với ngành nghề, sẵn sàng đi bất cứ nơi nào, không kể khó khăn, gian khổ để phát hiện nhiều tài nguyên và bảo vệ môi trường bền vững cho đất nước.

Đảng và Nhà nước đã đánh giá cao các thành tựu của ngành địa chất và đã tặng thưởng cho ngành Huân chương Hồ Chí Minh. Hội Địa chất Việt Nam (nay là Tổng hội Địa chất Việt Nam) cũng vinh dự được Huân chương Lao động hạng Nhì và hạng Nhất. Năm 2005, Chủ tịch nước đã gửi thư khen ngợi Liên hiệp Khoa học Địa chất và Du lịch thuộc Tổng hội Địa chất Việt Nam đã tìm thấy nước ngọt phục vụ bà con vùng cao Hà Giang.

                                                                         

* Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.