Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 21/04/2006 01:01 (GMT+7)

Tìm hiểu đặc điểm của một số cấu trúc định danh mở rộng trong ngôn ngữ Bác Hồ

Ví dụ:

Các nước anh em(tr. 154, t.7)

Các nước xã hội chủ nghĩa anh em(tr 642, t.7)

Các nước anh em tiến bộ(tr. 15, t.9)

Nhân dân lao động các nước anh em(tr. 625, t.7)

Các đảng anh em(tr. 786, t7)

Các đảng phái anh em dân chủ…(tr 517, t.6)

Trong hai cấu trúc Các nước anh em, Các nước xã hội chủ nghĩa anh emthì Các nước anh emchưa xác định một nước hay một phe phái cụ thể nào, nhưng trong Các nước xã hội chủ nghĩa anh emthì đối tượng đã được chỉ rõ hơn là “xã hội chủ nghĩa”. Ở đây, dụng ý của tác giả là: các nước có quan hệ anh em cần phải đoàn kết với nhau, các nước xã hội chủ nghĩa là anh em thân thiết càng phải đoàn kết hơn.

Như vậy, cấu trúc định danh càng được mở rộng thì nội dung, đối tượng được nói đến càng cụ thể và đồng thời lượng thông tin cũng được tăng lên. Cấu trúc định danh trong ngôn ngữ của Bác không chỉ mở rộng về nội dung, nghĩa là mở rộng cả về lượng và chất.

Tuy chưa hoàn chỉnh như cấu trúc câu, chỉ là một bộ phận của câu, nhưng cấu trúc định danh mở rộng thể hiện rất rõ tính thông báo, tính mục đích. Nhân dân anh em hai nước chúng ta(tr. 727, t.7), có nghĩa: nhân dân hai nước của chúng ta vốn là anh em, mãi là anh em. Các nước anh em tiến bộ(tr. 15, t.9) – các nước có tư tưởng tiến bộ, đấu tranh cho hoà bình thế giới đều là anh em. Trong mỗi cấu trúc, từng từ, từng chữ đều mang một ý nghĩa nào đó mà Bác muốn biểu đạt. Mỗi khi Bác nói hay viết đều có sự sàng lọc, lựa chọn từ ngữ kĩ càng. Sử dụng cấu trúc định danh mở rộng là Bác đã tạo được những sắc thái nghĩa mới, mặt khác, ngôn ngữ của Bác không xa lạ mà mang đậm tính quần chúng. Do vậy, có thể nói ngôn ngữ của Bác giản dị, dễ hiểu nhưng không hề đơn giản.

Trong khi thu thập và khảo sát tư liệu, chúng tôi gặp nhiều cầu trúc kêu gọi tình đoàn kết theo kiểu những cấu trúc như trên. Ví dụ:

Các dân tộc anh em(tr. 208, t.7)

Các dân tộc anh em Á Đông(tr. 245, t.4)

Anh chị em công nhân ta(tr. 261, t.5)

Anh chị em lao động ta(tr. 128, t.4)

Bà con bè bạn các nước anh em…(tr. 803, t.7)

Một trong những mục tiêu hàng đầu mà Bác hướng tới là thắt chặt tình đoàn kết, “toàn dân đoàn kết”. Bác sử dụng nhiều yếu tố “đồng bào” với chức năng định danh, thể hiện dụng ý khẳng định điều gì đó mà người nói đang hướng tới. Ở đây, Bác muốn mỗi người dân cần nhận thấy phần trọng trách của mình trước thời cuộc, trước vận mệnh của tổ quốc. Mọi người dân Việt Nam đều là “đồng bào”, không phân biệt vùng miền, giai cấp, tôn giáo, vị trí xã hội.

Đồng bào miền Nam anh hùng(tr. 730, t.10)

Đồng bào lao động chân tay(tr. 625, t.7)

Đồng bào nông dân lao động(tr. 519, t.7)

Đồng bào miền Nam ta(tr. 519, t.7)

Đồng bào miền Nam ruột thịt(tr. 617, t.10)

Đồng bào tín đồ Phật giáo…(tr. 560, t.7)

Bác luôn có những cách nói dễ đi vào lòng người. Khi phong tặng danh hiệu “chiến sĩ” cho nhân dân, Bác đã kịp thời động viên, khích lệ nhằm tăng thêm tinh thần hăng hái chiếu đấu của quần chúng nhân dân.

Nam nữ chiến sĩ(tr. 224, t.4)

Các bà mẹ chiến sĩ(tr. 328, t.6)

Chiến sĩ không quân nhân dân(tr. 378, t.10)

Chiến sĩ kinh tế tài chính(tr. 186, t.6)

Chiến sĩ nghệ thuật(tr. 136, t.6)

Chiến sĩ ta(tr. 167, t.5)

Chiến sĩ anh hùng…(tr. 167, t.5)

Tất cả mọi người, không phân biệt già trẻ, gái trai, không phân biệt ngành nghề, hễ lao động giỏi, chiến đấu giỏi đều là “chiến sĩ”. Bác có thái độ trân trọng đối với tất cả những người làm các công việc khác nhau, mọi giới khác nhau.

Bác đặc biệt chú ý sử dụng ngôn ngữ sao cho phù hợp với từng đối tượng giao tiếp. Tiếp xúc với giới trí thức, với bà con lao động chân tay, với anh em bè bạn, đồng chí quốc tế, hay đối đáp với kẻ thù, Bác đều có ngôn ngữ riêng của mình.

Ví dụ:

Anh chị em lao động ta(tr. 128, t.4)

Anh chị em công nhân ta(tr. 261, t.5)

Trung đội dân quân gái(tr. 567, t.7)

Các đồng chí giáo sư bạn(tr. 792, t.7)

Các đồng chí chuyên gia nước anh em (tr. 72, t.9)

Anh chị em nông dân lao động các thuộc địa… (tr. 461, t.1).

Với những cấu trúc như thế này, ta như đang cảm nhận được tình cảm chân thành với ánh nhìn trìu mến và nét cười hiền hậu từ nơi Bác. Bác không có gia đình riêng, nhưng Bác có một gia đình lớn: toàn dân Việt Nam đều là con cháu của Bác. Bác hiểu điều này hơn ai hết và Bác vẫn thường dùng cụm từ “đại gia đình” để chỉ sự chung chí hướng của nhân dân ta và nhân dân trên thế giới. Ví dụ:

Đại gia đình quân đội nhân dân(tr. 129, t.9)

Đại gia đình quân đội nhân dân ta(tr. 129, t.9)

Đại gia đình xã hội chủ nghĩa(tr. 741, t.7)

Đại gia đình châu Á(tr. 416, t.4)

Đại gia đình hoà bình(tr.333, t.7)

Đại gia đình kháng chiến(tr. 119, t.6)

Đại gia đình dân chủ thế giới…(tr.411, t.5)

Nhưng, khi đối diện với kẻ thù, các xấu và cái ác, Bác luôn thể hiện bằng tiếng nói gay gắt, đanh thép, không khoan nhượng.

Bác đả kích những thói hư tật xấu. Ví dụ:

Thói rỗng tuếch(tr. 523, t.4)

Bệnh xu nịnh(tr. 478, t.4)

Tệ tham ô hủ hoá(tr. 155, t.6)

Lối ăn cắp hợp pháp hoá…(tr. 181, t.1)

Xét về mặt hình thức thì những cấu trúc này khó có thể phân định một cách rõ ràng đâu là định danh, đâu là mở rộng bởi “thói, bệnh, nạn, tệ” là những yếu tố được kết hợp với “rỗng tuếch, xu nịnh, ăn cắp, tham ô…” chặt chẽ tới mức gần như chúng vốn có sẵn như vậy trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi không xét nhiều đến mặt hình thức mà chủ yếu tìm hiểu về nội dung, lượng thông tin mà mỗi cấu trúc mang lại. Khi kết hợp những yếu tố mang ý nghĩa tiêu cực với nhau là Bác đã tăng thêm tính phê phán. Sự tăng cấp về nghĩa ở đây không chỉ là cấp số cộng mà là cấp số nhân. Lý giải về điều này, đơn giản là Bác có tầm nhìn mới và lớn hơn chúng ta rất nhiều. Có những cách nói sáng tạo của Bác sau này đã đi vào vốn ngôn ngữ tiếng Việt một cách tự nhiên và dần trở thành thói quen nói năng của người Việt.

Chỉ với những cấu trúc định danh rất ngắn cũng đủ thấy Bác đau lòng tới mức nào trước những hiện tượng đáng buồn. Bác như muốn tất cả mọi người đồng lòng lên án thói hư tật xấu, triệt tiêu cái xấu.

Bác căm phẫn tột độ trước những thói tàn ác, những trò lừa bịp bỉ ổi của bọn bán nước và thực dân cướp nước. Thuế máuchỉ gồm hai âm tiết nhưng cũng đủ để chứa đựng trong đó bao nhiêu nỗi thống khổ, cả máu và nước mắt của người dân thuộc địa phải chịu sự chà đạp, áp bức của chủ nghĩa thực dân. Ví dụ:

Lũ việt gian bù nhìn chó săn(tr 339, t.6)

Bọn cá mập thực dân cướp bóc(tr.77, t.2)

Chế độ cai trị vô liêm sỉ(tr. 181, t.1)

Nền văn minh “quái vật”(tr. 206, t.1)

Một nền văn minh khát máu(tr. 443, t.1)

Bọn thực dân bất nhân bội tín…(tr.130, t.5)

Hơn thế, Bác mỉa mai, miệt thị bọn thực dân bằng những từ ngữ tưởng như rất nhẹ nhàng nhưng thực rất quyết liệt, đả kích trên mức bình thường. Ví dụ:

Quan công sứ thanh liêm nhà ta(tr. 397, t.1)

“Nền văn minh khai hoá cao cả”(tr.253, t.1)

Các quan lớn bảo hộ nhà ta(tr. 181, t.1)

Các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu(tr. 319, t.1)

Những “ân huệ” của chủ nghĩa thực dân…(tr. 135, t.1)

Bằng lối nói gián tiếp Bác mượn lời nói, giọng điệu của thực dân để đả kích chính bọn chúng, nhất là những tổ hợp từ được Bác đặt trong dấu ngoặc kép có tác dụng tăng thêm sức chiến đấu. Các quan cai trị của thực dân vô cùng tàn ác nhưng hễ mở miệng là chúng nói đến dân chủ, tự do, nhân đạo, chúng đến xâm lược nước ta nhưng lại nói là “khai hoá văn minh”, “bảo hộ”... cho chúng ta - lời nói của thực dân luôn đi ngược với hành vi, việc làm của chúng. Từ thực tế đó, Bác khéo sử dụng những từ ngữ có ý nghĩa “nghịch lí” đi cùng với nhau nhằm mỉa mai, châm biếm thực dân, làm lộ rõ bản chất thật của thực dân.

Từ một vài ví dụ trên đây, chúng tôi thấy cấu trúc định danh mở rộng đã góp phần khẳng định thêm về nghệ thuật dùng từ của Bác. Mỗi cấu trúc định danh mở rộng đều mang một nội dung nhất định, có thể không cần dựa vào văn cảnh, hoàn cảnh phát ngôn mà chúng ta vẫn có thể lĩnh hội được dụng ý của người nói. Đó chính là một phong cách ngôn ngữ điền hình cho việc sử dụng ngôn ngữ đa dạng, nhiều thông tin như Bác.

Tài liệu trích dẫn:

Hồ Chí Minh toàn tập(10 tập), NXB Sự thật, 1980-1989 (* Trong phần trích dẫn kí hiệu: tr: trang, t: tập)

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Lai - Những bài giảng về ngôn ngữ học đại cương, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 1997.

2. Huỳnh Lý – Văn Hồ Chủ tịch, NXB Chính trị quốc gia, 1981.

3. Viện Ngôn ngữ học - Học tập phong cách ngôn ngữ của chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB. KHXH. 1981

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 8 (118), 2005, tr 1-3

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.