Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 20/10/2011 20:46 (GMT+7)

Tiếp cận văn hóa với tính cách là một quyền cơ bản của con người

1. Văn hóa và quyền tiếp cận văn hóa

Văn hóa là một phạm trù rộng lớn, là một trong những lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội của con người. Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử của xã hội loài người, là một hệ thống các giá trị phản ánh bước tiến, mức độ và trình độ nhân tính hóa và ý thức về tự do, sự sáng tạo và hoàn thiện nhân cách của con người. Hồ Chí Minh đã quan niệm: "Văn hóa là sự tổng hợp một phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn" 1.

Cũng với cách hiểu và quan niệm trên, văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập bản sắc của một dân tộc. Theo đó, một dân tộc sẽ không tồn tại nếu cái bản sắc - nền văn hóa - của nó bị mai một, bị xâm lăng và đồng hóa. Cũng giống như sự sống còn của thiên nhiên, sự đa dạng văn hóa quyết định đến sự sống còn của loài người nói chung. Tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng văn hóa là tôn trọng và bảo vệ chính con người và xã hội loài người.

Với tính cách là một bộ phận hợp nhất của hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do chính con người sáng tạo ra, văn hóa hiện hữu sinh động và phổ biến trong các quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, giữa các cá nhân với nhau và giữa cá nhân với xã hội. Văn hóa có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xác lập đời sống tinh cho mỗi cá nhân và toàn xã hội; nó là cái làm cho con người trở nên ngày càng có nhân tính, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác với nhau chặt chẽ hơn trong quá trình sản xuất và đời sống xã hội.

Văn hóa là một trong bốn thành tố hay trụ cột của sự phát triển bền vững (kinh tế-văn hóa - xã hội - môi trường). Phát triển, suy đến cùng chính là nhằm giải phóng mọi năng lực vốn có của các cá nhân, nhờ đó giải phóng triệt để sức sản xuất của xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội, đảm bảo và hiện thực hóa các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người. ngày nay trong các quyền con người, quyền tiếp cận văn hóa là một trong những quyền ngày càng được coi trọng trong việc phát triển và hoàn thiện nhân cách cá nhân của mỗi người, cũng như trong việc xác lập và sáng tạo giá trị văn hóa của cộng đồng người, của từng dân tộc và quốc gia dân tộc.

Kinh tế thị trường luôn có xu hướng đặt lợi nhuận và lợi ích kinh tế lên hàng đầu, và quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã và đang đặt ra những thách thức đối với việc đảm bảo quyền tiếp cận văn hóa của những cộng đồng người nhất định và các quốc gia đang phát triển. Vấn đề bản quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ và việc thực thi những chính sách bảo hộ ngặt nghèo một mặt là cơ sở để bảo vệ lợi ích kinh tế và thúc đảy quá trình sáng tạo và sản xuất, nhưng mặt khác nó có những tác động tiêu cực đến mức độ thụ hưởng giá trị văn hóa và thành tựu khoa học - kỹ thuật thế giới của những quốc gia đang phát triển cũng như những nhóm người có thu nhập thấp, người nghèo và những nhóm dễ bị tổn thương khác. Là một quốc gia thành viên của WTO, Việt Nam cũng phải tuân thủ những nguyên tắc và quy định của tổ chức này và của pháp luật quốc tế nói chung, trong đó chịu sự ràng buộc pháp lý chặt chẽ của TRIPS (Hiệp định về các quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại). Quyền tiếp cận văn hóa chỉ ra nghĩa vụ của Nhà nước phải đảm bảo quyền này cho mọi cá nhân và các cộng đồng người, đồng thời chỉ ra khả năng có thể tiếp cận được các giá trị và đời sống văn hóa trong điều kiện có thể chi trả được hoàn toàn miễn phí. Đáng tiếc, trong thực tế các sản phẩm văn hóa nói riêng và mọi hoạt động của đời sống văn hóa nói chung không dễ dàng đến được với tất cả mọi người vì những rào cản về thể chế (như khung khổ pháp luật, chính sách) cũng như khả năng thực thi trên thực tế (như điều kiện vật chất cần thiết, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý và thực thi…).

Quyền tiếp cận văn hóa đặc biệt quan trọng đối với những nhóm người dễ bị tổn thương (người nghèo, người thu nhập thấp, nông dân, cộng đồng dân tộc thiểu số…) và những cộng đồng, quốc gia đang phát triển - khu vực mà quá trình toàn cầu hóa văn hóa và nền kinh tế thị trường đang có nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc cũng như những trở ngại và tác động tiêu cực từ sự hội nhập và phát triển.

Xét về mặt quản lý xã hội, tiếp cận văn hóa hay tiếp cận dựa trên văn hóa là một phương pháp, công cụ trong hoạch định và thực thi chính sách và chương trình ấy văn hóa là trọng tâm của xuất phát điểm và đích hướng đến. Ngày nay, tiếp cận văn hóa là một phương pháp được áp dụng phổ biến trong cộng đồng quốc tế, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển và trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa sâu sắc. Tiếp cận văn hóa là một đòi hỏi bức thiết của quá trình phát triển lấy con người làm mục đích; là phương tiện để làm "nhân bản hóa" các quan hệ sản xuất hiện đại. Trong xu thế thịnh hành của nền kinh tế thị trường và sự phát triển nóng và mất cân đối giữa các lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường) đang diễn ra mạnh mẽ ở các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), tiếp cận văn hóa được xem như là một công cụ mạnh mẽ để tạo lập sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế với hệ thống an sinh xã hội hiệu quả và bảo vệ môi trường hướng tới sự phát triển bền vững.

Đối với mỗi cá nhân, quyền tiếp cận văn hóa bao gồm các quyền được tôn trọng, được thụ hưởng và được tham gia vào quá trình sáng tạo ra các giá trị văn hóa; đồng thời, quyền tiếp cận văn hóa là quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa. Quyền thụ hưởng, quyền thể hiện và thực hành văn hóa đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo ra các giá trị văn hóa của cá nhân và cộng đồng. Quyền tiếp cận văn hóa, với tính cách là một quyền cơ bản của con người, chỉ ra những nguyên tắc bất di bất dịch: không phân biệt đối xử; bình đẳng về cơ hội thụ hưởng giá trị và thực hành đời sống văn hóa; trách nhiệm giải trình của chủ thể nghĩa vụ (nhà nước).

Quyền được thực hành văn hóa, được hưởng thụ và được tham gia vào sáng tạo ra các giá trị văn hóa có mối liên hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Cá nhân sẽ không thể tham gia vào quá trình sáng tạo giá trị văn hóa nếu không được tiếp cận, được thực hành và hưởng thụ các giá trị do người khác hay cộng đồng sáng tạo ra.

Bảo đảm quyền tiếp cận văn hóa liên hệ mật thiết với việc bảo đảm các quyền tự do cơ bản khác, đặc biệt là quyền tiếp cận thông tin, quyền được giáo dục và quyền tự do biểu đạt. Trọng tâm của con người nói chung và của quyền tiếp cận văn hóa nói riêng, đó là nguyên tắc bình đẳng. Bình đẳng không chỉ đơn thuần là sự đối xử một cách như nhau, mà điều quan trọng hơn là tôn trọng và thừa nhận sự khác biệt và đa đạng. Thực tiễn cho thấy điều này không dễ dàng trong quá trình phát triển xã hội dựa trên sự thống nhất chung của đa dạng các giá trị và nền văn hóa khác biệt.

2. Luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về quyền tiếp cận văn hóa

Quyền con người nói chung, cũng như quyền tiếp cận văn hóa nói riêng, đã từ rất lâu được nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc, đặc biệt là từ khi ra đời của Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngườivà hàng loạt các công ước quốc tế về quyền con người trong những năm 60 và 70 của thế kỷ XX. Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngườinăm 1948 đã trịnh trọng tuyên bố "mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng" (Điều 27). Điều 15 (1) của Công ước quốc tế về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa(ICESCR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1996 đã quy định cụ thể về quyền văn hóa, theo đó quyền văn hóa được xem là những quyền của con người trên lĩnh vực văn hóa, bao gồm quyền: a) Được tham gia vào đời sống văn hóa; b) Được hưởng các lợi ích và những ứng dụng của tiến bộ khoa học phục vụ cho lợi ích con người; c) Được bảo hộ các quyền lợi về tinh thần và vật chất phát sinh từ bất kỳ sáng tạo khoa học, văn học, nghệ thuật nào của mình; d) Quyền tự do không thể bị tước bỏ khỏi hoạt động sáng tạo và nghiên cứu khoa học.

Những năm 60 và 70 của thế kỷ XX, các nhóm nghiên cứu về người bản địa, các dân tộc thiểu số cũng như các nhóm xã hội khác đã xây dựng những luận cứ khoa học về tình trạng báo động của những nền văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc và cộng đồng người trên thế giới. Đồng thời chỉ rõ cho thấy khả năng tiếp cận quyền về văn hóa của những cộng đồng người này bị hạn chế do những mặt trái của quá trình phát triển kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. Các nhóm nghiên cứu của Liên hợp quốc về từng chủ đề cụ thể liên quan đến quyền của người bản địa và văn hóa đã giúp Liên hợp quốc xây dựng và cho ra đời hàng loạt các văn kiện quốc tế, nhằm tạo khung khổ pháp lý cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền tiếp cận văn hóa của mọi cồng đồng. Chẳng hạn, Công ước của UNESCO về di sản văn hóa và thiên nhiên (thông qua năm 1972); Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về bảo vệ những nhóm thiểu số về ngôn ngữ, tôn giáo, sắc tộc và dân tộc; Tuyên ngôn của Liên hợp quốc về quyền của các dân tộc bản địa…

Vào cuối thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, những thách thức toàn cầu đối với sự phát triển bền vững toàn cầu đối với sự phát triển bền vững được nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu và diễn đàn chính trị quốc tế. UNESCO đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự đa dạng các nền văn hóa và coi việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền tiếp cận văn hóa là nền tảng của việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền tiếp cận văn hóa là nền tảng của việc tôn trọng và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người.

Tuyên ngôn thế giới về đa dạng văn hóa (2001) và Công ước về bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng các hình thức văn hóa củaUNESCO, Công ước của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới và Công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Công ước châu Âu về giá trị của di sản văn hóa đối với xã hội…đều được đề cập đến các quyền về tiếp cận văn hóa; đồng thời nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc phải tăng cường công tác giáo dục và phổ biến các giá trị và di sản văn hóa, bảo đảm quyền được tiếp cận các giá trị này của tất cả mọi người.

Việt Nam là một quốc gia tham gia tích cực và thực thi nghiêm chỉnh các công ước quốc tế về quyền con người, bao gồm Công ước quốc tế về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa.Các quy định quốc tế về quyền con người đã được nội luật hóa vào trong hệ thống pháp luật Việt Nam , được thông qua các chính sách, chương trình quốc gia và bảo đảm trong thực tiễn. Điều 50 của Hiến pháp năm 1992 quy định, "ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng". Bộ luật Dân sự (1995), Luật Di sản văn hóa (2001), Luật Điện ảnh (2006), Luật Xuất bản (2004), Luật Khoa học và Công nghệ (2000)… đã cụ thể hóa những nguyên tắc hiến định về quyền tiếp cận văn hóa. Nhà nước cũng đã thông qua rất nhiều các chính sách và chương trình quốc gia nhằm thúc đẩy hoạt động sáng tạo và thụ hưởng các giá trị văn hóa.

Là một quốc gia đa dân tộc, nền văn hóa Việt Nam là sự kết tinh và tổng hòa của sự đa dạng văn hóa giữa các dân tộc anh em trải qua hàng ngàn năm hấp thụ và tiếp biến các giá trị văn hóa và sở hữu những di sản văn hóa độc đáo của nhân loại bao gồm những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cùng với đó là hàng loạt các di sản văn hóa quốc gia. Quá trình đổi mới và phát triển trong suốt hơn hai thập kỷ qua đã góp phần to lớn vào việc hiện thực hóa các quyền con người nói chung và quyền tiếp cận văn hóa nói riêng. Đảng và Nhà nước ta luôn nhấn mạnh việc đặt con người là trung tâm của sự phát triển. Bảo đảm quyền con người nhằm giải phóng mọi năng lực vốn có của cá nhân là mục đích tự thân và sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Thành tựu hơn 20 năm đổi mới đã cho thấy những bước tiến vượt bậc về mức độ thụ hưởng các quyền cơ bản của công dân, bao gồm các quyền về văn hóa. Hiển nhiên, sự mở rộng mức độ thụ hưởng các quyền con người ở Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội và trình độ dân trí của người dân. Mặc dù vậy, thực tiễn cho thấy mức độ thụ hưởng và sáng tạo giá trị văn hóa, đời sống văn hóa của các bộ phận tầng lớp nhân dân còn hạn chế, từ đó đòi hỏi công tác hoạch định chính sách, quản lý và thực thi, công tác giáo dục, phổ biến, tuyên truyền cần tiếp tục được điều chỉnh và không ngừng cải thiện.

Chú thích:

1.Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.431.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada:
Trung thu – Một miền ký ức
…Tôi cũng không nhớ đã bao lần đón trung thu nữa, thế nhưng mỗi lần tháng Tám về, dắt con đi qua những phố thị đầy ắp đèn hoa, bánh kẹo trong tôi lại ùa về những cảm xúc khỏ tả, một miền ký ức sâu thẳm thân thương biết bao giờ trở lại ….
Kết luận số 83-KL/TW: Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu
Ngày 24/9, Ban Tuyên giáo Trung ương và Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp tổ chức Hội thảo tuyên truyền, phổ biến, quán triệt Kết luận số 83-KL/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam. Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh.