Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 15/03/2006 23:51 (GMT+7)

Tiếng thu - một cách nhìn thế giới và văn chương

Tiếng thu là một bài thơ lạ. Cái lạ không phải ở chất liệu, mà chính là cách tổ chức chất liệu hay cách ứng xử với chất liệu của nhà thơ.

Từ ngàn năm nay, từ khi bắt đầu có ý thức về thời gian, bắt đầu cảm nhận được nhịp điệu của vũ trụ qua bước đi của bốn mùa - thì con người cũng đã bắt đầu biết nghe “tiếng thu” từ trăng, từ rừng, từ nai vàng, từ lá khô… So với những biến thiên vô thường của xã hội loài người, thiên nhiên dường như thuộc về cái vĩnh hằng. Và vì lẽ ấy, “tiếng thu” thân quen ngàn năm kia đã ùa vào đời sống văn chương, đã tự ước lệ hoá mình thành những chất-liệu-bất-biến. Ở thời đại và thời điểm của Lưu Trọng Lư, người ta đã viết rất nhiều và rất hay về mùa thu. Tiếng thu của Lưu Trọng Lư sẽ phải là một bản nhạc hoàn toàn mới nếu không muốn bị hoà tan vào trăm ngàn bản “thu ca” xưa.

Nhưng hãy xem thi sĩ làm gì? Trên một cơ số ít ỏi, dồn đọng (chứ không miên man “nhiều lời” như nhiều bài thơ lãng mạn khác), Lưu Trọng Lư lại dùng lại chính những chất liệu không có gì mới mẻ ấy: nai vàng, trăng mờ, lá khô… Những chất liệu của mùa thu cổ điển trong văn chương, chính vì thế cũng gợi nhắc những bài thơ viết về mùa thu trong quá khứ. Quá khứ đã hoạ nên những kiệt tác mà người vẽ lại chúng rất dễ bị xem như “một kẻ chép tranh tầm thường”. Umberto Eco trong cuốn tiểu luận Đi tìm sự thật biết cười, đã kể một câu chuyện rất thú vị ít nhiều liên quan đến điều này: “Tôi nghĩ về thái độ hậu hiện đại như về câu chuyện của ai đó yêu một người đàn bà, rất có học thức và biết rằng không thể nói với cô ta: “Anh yêu em đến thẫn thờ” bởi vì chàng biết là nàng biết (và nàng biết là chàng biết) rằng câu này Liala đã từng viết rồi. Tuy nhiên có một cách giải quyết, chàng có thể nói: “như thể Liala nói, anh yêu em một cách tuyệt vọng”…(tr. 274, 275).

Quả vậy, viết về mùa thu, thi nhân đồng thời đứng trước hai thách thức của quá khứ: một của mùa thu thiên nhiên, đã quen thuộc trong cảm thức vĩnh hằng, và một của những kiệt tác văn chương về mùa thu đã in sâu trong kí ức nhân loại. Phải viết làm sao để không thành một kẻ chép tranh mà là một nghệ sĩ sáng tạo, không ngây thơ giả dối mà vẫn nói lên được niềm xúc cảm tươi nguyên mới lạ trước một thế giới không - còn - mới - nữa.

Vậy nhà thơ đã chấp nhận và vượt qua những thách thức ấy như thế nào để có một tiếng thu của riêng mình?

Cũng như cách giải quyết dí dỏm mà Eco đề xuất, Lưu Trọng Lư đặt hệ chất liệu quen thuộc kia lên bề mặt của kết cấu chất vấn.

Em không nghe… trăng mờ…?

Em không nghe… chinh phu… cô phụ?

Em không nghe… rừng thu… lá thu… nai vàng?

Dù không hẳn những câu hỏi trên là những câu hỏi đơn thuần đi tìm câu trả lời, nhưng rõ ràng kết cấu chất vấn kia đã mang đến cho chất liệu một tư thế mới. Nhà thơ không “tả” lại mùa thu mà ông đặt cả thế giới thu đó ở vị trí của một đối tượng có thể được cảm nhận bởi giác quan của con người.

“…không nghe… không nghe… không nghe…?”

Bài thơ đang đánh thức và báo hiệu một góc nhìn khác, một sự “hỏi lại” cái thế giới tưởng chừng đã được “khắc tranh tạc tượng” trong văn chương và trong cả tiềm thức con người. Vấn đề ở đây không hẳn ở sắc thái “trách cứ” em “không nghe”, không đồng cảm mà chính là muốn “em”, muốn con người nói chung hãy có cái nhìn mới mẻ, tinh khôi trước cuộc sống đang cũ đi, hãy nghe cái thế giới quen thuộc kia bằng cả tâm hồn thuần khiết…

Bài thơ hay ở chỗ vừa chấp nhận thách thức của quá khứ, vừa sáng tạo nên cái nhìn riêng về quá khứ; vừa là chính mình vừa là một cái gì khác đang nhìn lại mình, lắng nghe cái cổ điển bằng mộttâm hồn hiện đại…

Đứng từ góc độ này để soi sáng kiến trúc bài thơ, chúng ta mới có thể nhận ra được vẻ đẹp độc đáo của nó.

Trục kết hợp và “chất thơ của ngữ pháp”

Trước hết bài thơ gồm ba đoản khúc thu tựa như ba lớp sóng nhẹ của một mặt hồ êm lặng (với ¾ thanh bằng) mà lớp sau lan toả mạnh hơn lớp trước, chiếm chỗ trên không gian mặt giấy nhiều hơn lớp trước. Song những đổi thay đó không đột ngột và không chói gắt: sự ổn định về số chữ trong câu (ngũ ngôn) và sự tăng tiến tuần tự của số câu trong mỗi khổ thơ ( 2-3-4) đã giữ cho bài thơ một dáng vóc cân đối hài hoà.

Tuy nhiên, khi số câu ở mỗi khổ tăng lên thì khoảng trắng giữa các dòng thơ cũng tăng theo là liên kết ngữ pháp giữa các câu thơ cũng thay đổi. (bảng 1)

Như vậy, mức độ của sự phân vân, của niềm bâng khuâng, của sự không thấu hiểu… cũng ngày càng gia tăng theo dòng chảy cảm xúc. Khoảng trống nhiều hơn không phải ở phía “Mùa thu” - phía đối tượng được thụ cảm, mà chính ở phía “Em” - phía chủ thể đón nhận và tri âm.

Ở một góc độ nào đó, Tiếng thu là tiếng gọi tri âm của một tâm hồn, một thế giới bên trong đẹp đẽ, trong trẻo, thánh thiện, cổ kính. Nhịp điệu thơ chậm dần, chất liệu thơ “nở ra”, “giãn ra”, bớt đậm đặc đi, mang ý niệm của sự liền mạch, sự lây lan… hơn là sự khắc tạc và in dấu. Dường như cái thần của bài thơ không nằm trong từng câu chữ cụ thể mà vượt lên như một tổng thể mờ ảo, bảng lảng, khi xa khi gần, khi nồng khi đạm - của một bức tranh thuỷ mặc Trung Hoa hoặc một bức hoạ ấn tượng của Pháp.

Trục lựa chọn và cuộc đối thoại dưới mạch ngầm văn bản

Trên cơ sở những trùng điệp về ngữ pháp và ngôn từ, chúng ta có thể khám phá thêm nhiều ý nghĩa từ liên kết dọc của bài thơ: (bảng 2).

Rõ ràng trên trục dọc của bài thơ này có một “đối thoại ngầm” – không đơn giản là đại từ nhân xưng “em”, là những câu hỏi nối nhau liên tiếp, và giọng chất vất “không nghe”, “không nghe”… - mà chính là ở kết cấu vừa song hành vừa đối lập của nó. Đó là sự đối thoại giữa Tĩnh và Động, giữa giác quan có giới hạn và thế giới tựnhiên vô cùng, giữa cái bất biến vĩnh hằng của mùa thu nhận loại và những cảm giác mãi mãi tươi mới của con người về nó. Hay nói cách khác đó chính là cuộc đối thoại giữa Cổ điển và Hiện đại, phươngĐông và phương Tây, giữa thế giới “đã được nói đến” và thế giứi “đang được tìm hiểu”…

Tiếng thu– thi trung hữu nhạc hay thi trung hữu hoạ?

Đúng như nhận xét của GS. Đỗ Đức Hiểu trong bài viết về Tiếng thu : “Thơ Lưu Trọng Lư hầu như chỉ là những bản nhạc thuần tuý, những bản nhạc mờ ảo trên nền những bức tranh cũng mở ảo (…) rung động và bí ẩn như một huyền thoại”(T.137, 183 – Thi pháp hiện đại – NXB Hội nhà văn, 2000). “Tranh thơ” ở bài Tiếng thu này có màu sắc bình đạm, thanh khiết, nguyên khôi. Còn “nhạc thơ của nó thì mơ hồ, dịu nhẹ và da diết. Thông qua kết cấu trùng điệp – song hành, chủ âm của bài thơ là nhịp điệu say mê dịu dàng và chất chứa nhiều xao động thầm kín. Tất cả như những lớp sóng trùng lên nhau, dào dạt xô đẩy, lây lan, kéo nhau đi với sức hút không thể cưỡng lại. Đó là một hệ thống không hệ thống, thật hài hoà song cũng đầy ngẫu hứng và xúc cảm. Đó là một thế giới “tự đầy đủ” – nơi các yếu tố của nó tự vang âm, đồng vọng và ảnh xạ vào trong nhau… để sống thêm một sự sống khác ngoài nó, để cùng “ đợi chờ, thúc giục, song đôi” (Chế Lan Viên)..

- mùa thu ( dưới) trăng mờ

- chinh phu ( rạo rực trong lòng) cô phụ

- nai vàng ( đạp lên) lá vàng khô

Bằng một loạt các từ láy biểu hiện cái xao động, cái đang diễn ra (thổn thức, rạo rực, xào xạc, ngơ ngác…) và những cặp đôi hình ảnh sống động, nhà thơ đã “đánh thức” cả một thế giới sự vật và chất liệu cũ xưa, quen nhàm.

Bức tranh thu bị nhoà hết đường viền, chỉ còn lại những “điểm nhấn không gian” của những thanh trắc, của những từ láy cắm chốt trên dòng thơ… như những xao động thoáng rung lên của một thế giới tưởng đã tắt lặng, im lìm và say ngủ.

Đi từ cái trừu tượng vô hình đến cái hữu hình cụ thể - nhà thơ vẫn hướng mạnh về sự sống và cuộc sống sinh động hơn là những khái niệm, triết lí suy tư. “Tiếng thu” là sự tổng hoà giao cảm của đất và trời, cảm giác và âm thanh, con người và tạo vật, vĩ mô và vi mô… Đó là một bức tranh nhiều lớp, càng bóc tách càng thú vị vì tính không rõ ràng, vì vẻ đẹp huyền ảo, bí ẩn và say đắm của nó.

Dù mang trong hình thức cô đọng của mình cả kí ức của mùa thu của nhân loại, của văn chương cổ điển phương Đông, Tiếng thu cũng đồng thời là những băn khoăn, những bối rối, những khoảng trống chưa được thấu hiểu của thời đại và một cá nhân trong thời đại ấy.

Đó là một bài thơ “lãng mạn” điển hình song cũng lấp lánh những dấu hiệu của một dòng thơ tượng trưng hiện đại sau này.

Nguồn: T/c Ngôn ngữ - Đời sống, số 10/2005

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.